Thursday, October 6, 2011

Sức khỏe của chúng ta(4)

1.Các bệnh ung thư thường gặp ở trẻ em
Dù chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ (1 - 2%) nhưng ung thư nhi có tác động tâm lý - xã hội vô cùng sâu sắc bởi tỉ lệ tử vong khá cao (10%). Có lẽ vì thế mà cuộc thảo luận “Tìm hiểu và phòng ngừa ung thư ở trẻ em” đã thu hút được sự quan tâm của nhiều bậc phụ huynh. Cuộc thảo luận giữa Bác sĩ Anselm Chi-wai Lee, chuyên gia y tế cao cấp tư vấn và điều trị ung thư nhi tại TT Ung thư Parkway (Singapore), trưởng khoa huyết học và ung thư nhi bệnh viện Tuen Mun (Hong Kong) và các bậc phụ huynh tại trường Tiểu học Quốc tế VIP tối qua đã mang lại rất nhiều thông tin bổ ích và lý thú. Dưới đây là một phần của buổi thảo luận này:
Hỏi: Trẻ nhỏ có thể bị ung thư? Ung thư nhi có thể điều trị và khả năng thành công?
+Thực tế, tỉ lệ mắc ung thư ở trẻ em chỉ là 15/100.000 trẻ, trong đó 1/500 trẻ bị ung thư trước khi 18 tuổi. Tỉ lệ này thực sự rất nhỏ so với các trường hợp ung thư ở người lớn. Tuy nhiên, các bậc cha mẹ cũng không nên quá lo lắng nếu con mình không may mắc phải căn bệnh này bởi cứ 3 trẻ bị ung thư sẽ có 2 trẻ được điều trị khỏi, sống khỏe mạnh và thậm chí là thành danh sau này.

Hỏi: Trong hiệu quả điều trị bệnh, bác sĩ nhấn mạnh tới yếu tố phát hiện bệnh sớm và phương thức điều trị. Vậy làm thế nào để phát hiện bệnh sớm?
+Trước tiên cần phải nhận biết được các dấu hiệu đáng ngờ:
- Tình trạng đau/nhức xương:
Đau xương hoặc khớp, cơn đau chuyển từ chi này sang chi khác
Trẻ bị đau đến mứckhông thể cử động nổi chi bị đau.
Kèm theo sưng tấy ở vùng bị đau
- Khối u:
Trên bề mặt da hoặc dưới da hoặc trong bụng bị sưng tấy.
Các cơn đau ở các vùng này diễn ra không thường xuyên (nếu xương không bị ảnh hưởng).
- Phản xạ ánh sáng trắng trong mắt:Phát hiện khi chiếu sáng vào mắt tổn thương
Dễ dàng phát hiện trong trường hợp chụp ảnh có đèn flash. Tuy nhiên, đôi khi ngay cả khi không có những dấu hiệu trên thì trẻ vẫn có thể bị ung thư nếu trẻ sống trong môi trường có người hút thuốc lá (hút thuốc thụ động), chế độ dinh dưỡng, luyện tập không hợp lý; trẻ bị thừa cân, béo phì và không được tiêm chủng đầy đủ.

Hỏi: Vậy làm thế nào để phát hiện bệnh ung thư ở trẻ em khi các dấu hiệu không rõ ràng?
+ Trước tiên, cha mẹ cần đưa trẻ đi khám để được tư vấn tới các chuyên khoa liên quan cũng như làm các xét nghiệm cụ thể (kiểm tra máu, sinh thiết tủy xương, chẩn đoán hình ảnh - X-quang, chụp CT, chụp cộng hưởng từ, chụp xương, chụp kiểm tra u thần kinh nội tiết, chụp PET-CT)”.

Hỏi: Ung thư có thể phòng ngừa?
+ Dù là dạng bẩm sinh hay bội nhiễm thì ung thư hoàn toàn có thể phòng ngừa được dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau:
- Không hút thuốc và giáo dục trẻ em tránh xa thuốc lá cũng như khu vực có khói thuốc lá.
- Chế độ dinh dưỡng, luyện tập hợp lý, phù hợp với lứa tuổi và đặc biệt không để trẻ thừa cân, béo phì.
- Tiêm ngừa vắc xin viêm gan B (virus viêm gan B chính là tác nhân dẫn tới ung thư gan ở trẻ em).
- Tiêm ngừa vắc xin HPV (virus u nhú là tác nhân dẫn tới ung thư tử cung ở các bé gái).
Các bệnh ung thư thường gặp ở trẻ emTrẻ em có thể bị ung thư ở một số bộ phận trên cơ thể giống như ở người lớn nhưng tỉ lệ chữa khỏi rất cao. Loại ung thư thường gặp nhất ở trẻ em là bệnh bạch cầu và u nguyên bào thần kinh.
A. Bệnh bạch cầu cấp là gì?
Bệnh bạch cầu cấp là bệnh ung thư của dòng bạch cầu. Bạch cầu giúp cơ thể chống lại viêm nhiễm.
Có 2 loại bạch cầu: bạch cầu dòng tuỷ và bạch cầu dòng lympho. Bạch cầu ảnh hưởng tới các tế bào dòng lympho và là thể ung thư phổ biến nhất ở trẻ em, chiếm tới 23% tỉ lệ ung thư được chẩn đoán ở trẻ dưới 15 tuổi.
Các tế bào bạch cầu non bất thường không làm được chức năng vốn có là bảo vệ cơ thể khỏi các tác nhân nhiễm trùng.
Các yếu tố nguy cơ
Người ta vẫn chưa có hiểu biết nhiều về nguyên nhân của bệnh này. Các nghiên cứu gần đây cho thấy Bệnh bạch cầu cấp xuất hiện ở trẻ nam hơn trẻ nữ và gặp nhiều hơn ở những trẻ da trắng hơn là trẻ ở các màu da khác.
Ngoài ra, nguyên nhân phơi nhiễm tia X khi trong quá trình bào thai và các hội chứng gen cụ thể (ví dụ như hội chứng Down) cũng có thể là yếu tố nguy cơ.
Các triệu chứng thường gặp của bệnh bạch cầu cấpDo các tế bào bạch cầu không thể chống các bệnh viêm nhiễm và thường có xu hướng tụ lại ở nhiều nơi trên cơ thể, và trẻ thương bị thiếu hồng cầu và tiểu cầu (gây ra thiếu máu). Trẻ bị bạch cầu cấp thường có nhiều triệu chứng như sau:
• Sốt
• Mệt mỏi
• Viêm nhiễm thường xuyên
• Sưng hạch bạch huyết, gan hoặc lách
• Da xanh
• Dễ bị chảy máu hoặc thâm tím
• Có những đốm xuất huyết dưới da
• Đau xương hoặc khớp.

B.Bệnh Bạch cầu cấp dòng tuỷ
Bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ là loại ung thư của mô tạo máu, đó chính là tuỷ xương và hạch bạch huyết.
Tuỷ xương tạo ra các tế bào hồng cầu (những tế bào mang ôxy và các chất tới các mô khác trong cơ thể), tế bào bạch cầu (có chứng năng chống lại các bệnh viêm nhiễm) và tiểu cầu (giúp máu đông). Bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ là bệnh bạch cầu tác động đến các tế bào tuỷ.
Khi bạch cầu phát triển, tuỷ xương sẽ sản sinh ra một lượng lớn các tế bào bất thường - thường là bạch cầu. Các tế bào máu bất thường, không có khả năng chống lại viêm nhiễm này sẽ lan toả toàn bộ dòng máu và hệ bạch huyết và có thể xâm nhập các cơ quan nội tạng quan trọng.
Các yếu tố nguy cơ của bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ
Người ta vẫn chưa có hiểu biết nhiều về nguyên nhân của bệnh này. Các nghiên cứu gần đây cho biết bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ thường phổ biến ở trẻ em trong 2 năm tuổi đầu tiên và ít phổ biến hơn ở trẻ lớn hơn và sau đó số lượng ca bệnh lại tăng khi trẻ ở độ tuổi thanh thiếu niên (10-18 tuổi).
Trẻ bị hội chứng Down có nguy có nguy cơ cao hơn đối với bệnh này. Giới tính và tuổi không có vai trò quyết định trong sự phát triển của bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ.
Các triệu chứng thường gặp
Các dấu hiệu sớm của bệnh bạch cầu dòng tuỷ:
- Sốt
- Cảm thấy mệt hoặc yếu
- Ớn lạnh
- Viêm nhiễm thường xuyên
- Sưng hạch bạch huyết, gan to, lách to
- Triệu chứng giống bệnh cúm
- Dễ bị chảy máu hoặc thâm tím
- Đau nhức xương hoặc khớp
C. U nguyên bào thần kinh là gì?U nguyên bào thần kinh là một khối u ung thư có tính chất cứng. Khối u bắt đầu từ mô thần kinh ở cổ, ngực, bụng hoặc chậu hông, nhưng thông thường (1/3 trường hợp) khối u có gốc ở mô tuyến thượng thận trong ổ bụng. Khối u này đặc trưng ở trẻ nhỏ và chiếm khoảng 50% các ca ung thư được chẩn đoán ở trẻ sơ sinh.
Ung thư là kết quả của các tế bào bất thường phát triển trong cơ thể. Trong trường hợp u nguyên bào thần kinh, các tế bào ung thư phát triển từ các tế bào thần kinh trong thời kỳ phôi thai hoặc bào thai. Các tế bào non liên tục phân chia và phát triển bất thường, tạo ra khối u. Một số khối u chuyển thành không ác tính (lành tính) và được coi là u hạch thần kinh.

Các yếu tố nguy cơ
Hiện nay vẫn chưa tìm thấy các yếu tố nguy cơ rõ ràng có liên quan tới u nguyên bào thần kinh nhưng các nhà nghiên cứu đã tìm ra rằng:
- Tuổi. Bệnh xuất hiện nhiều nhất ở trẻ sơ sinh, chiếm khoảng 50% các ca ung thư được chẩn đoán ở trẻ sơ sinh.
- Giới tính. Bệnh xuất hiện ở trẻ nam nhiều hơn trẻ nữ.
- Chủng tộc. Bệnh gặp ở trẻ em da trắng nhiều hơn các trẻ em da màu khác.
- Lịch sử gia đình. Nếu u nguyên bào thần kinh xuất hiện ở những người thân, họ hàng, bệnh nhi có thể có nguy cơ mắc bệnh này cao hơn.
Các triệu chứng thường gặp:
Bất kỳ triệu chứng đơn lẻ hoặc kết hợp sau cũng có thể là dấu hiệu của u nguyên bào thần kinh:
- Khối u/cục bất thường, thường xuất hiện ở cổ, ngực, bụng hoặc chậu hông
- Đau bụng hoặc khó chịu ở bụng
- Đau xương hoặc mềm xương
- Sốt
- Mắt lồi ra và có vòng thâm quanh mắt
Các triệu chứng ít gặp hơn có thể là:
- Liệt
- Huyết áp cao
- Tiêu chảy nặng
- Co giật cơ không phối hợp
- Cử động mắt không kiểm soát
Các triệu chứng có thể là dấu hiệu của u nguyên bào thần kinh hoặc bệnh lý khác. Khi trẻ có bất kỳ triệu chứng nào như trên thì cần phải đưa tới gặp bác sĩ sớm.

* Các bước chẩn đoán u bướuU nguyên bào thần kinh: Nếu có các triệu chứng, bác sĩ sẽ khám lâm sàng trực tiếp và sẽ đưa ra các xét nghiệm cần làm để tìm ra nguyên nhân của các triệu chứng. Các kiểm tra có thể bao gồm:
- Kiểm tra máu
- Xét nghiệm nước tiểu
- CT hoặc CAT scan
- Cộng hưởng từ
- Sinh thiết
Thông thường, u nguyên bào thần kinh là bẩm sinh nhưng chỉ phát hiện được sau đó. Trong một số ít trường hợp, u có thể được phát hiện trước khi sinh nhờ siêu âm thai.
Chẩn đoán bệnh bạch cầu cấp & bệnh bạch cầu cấp dòng tuỷ: Nếu trẻ gặp những triệu chứng trên, trước tiên bác sĩ sẽ khám lâm sàng trực tiếp. Sau đó, bác sĩ sẽ cho trẻ làm kiểm tra máu. Mẫu máu sẽ cho biết số lượng tế bào máu khoẻ mạnh và kiểm tra số lượng tế bào bạch cầu. Sau đó để khẳng định chẩn đoán, bác sĩ chuyên khoa ung thư sẽ thực hiện sinh thiết tuỷ xương và nghiên cứu nhiễm sắc thể.
Các phương pháp điều trị
Nếu phát hiện ung thư, bác sĩ sẽ chỉ định thêm một số xét nghiệm để khẳng định loại tế bào ung thư, và giai đoạn bệnh. Sau đó bác sĩ sẽ thảo luận với gia đình bệnh nhânvà bệnh nhân để quyết định kế hoạch điều trị tốt nhất. Điều trị phụ thuộc vào loại ung thư, giai đoạn bệnh, tuổi của bệnh nhân và sức khoẻ chung. Các phương pháp điều trị có thể bao gồm:
- Phẫu thuật
- Xạ trị
- Hoá trị
- Ghép tuỷ và máu


2. Phòng và điều trị ung thư “của quý”
Ung thư “của quý” (dương vật) thường gặp ở nước kém phát triển. Bệnh này gắn liền với việc không xử lý hoặc xử lý không đúng lúc tật hẹp bao quy đầu bẩm sinh.Ghi nhận năm 1995, Hà Nội có tỷ lệ mắc bệnh chuẩn theo tuổi là 2,1/100.000 tại TP. Hồ Chí Minh. Ung thư “của quý” thuộc loại ung thư thường gặp nhất, chiếm 3/4% các loại ung thư. Nguyên nhân ung thư dương vật (UTDV) hiện nay được quy kết cho virut u nhú ở người (Human Papiloma virut C). Vì vậy phương thức phòng bệnh là hướng tới việc cắt bao quy đầu sớm và cách ly nguồn lây HPV... Trong điều trị đã sử dụng loại kem hóa chất bôi tại chỗ tiêu diệt tế bào ung thư, bảo tồn bộ phận sinh dục cho các bệnh nhân trẻ, cho đến phẫu thuật kết hợp với tia xạ áp sát (Brachytherapy) hoặc dùng máy gia tốc năng lượng cao và hóa trị liệu. Vì vậy bệnh UTDV ngày càng ít dần và tỷ lệ chữa khỏi khá cao so với nhiều loại ung thư khác. Nguyên nhânNhiều người cho rằng da quy đầu bị dơ bẩn gây ra.Da quy đầu bị dơ bẩn là do nước tiểu bị dính khi đi tiểu, cộng thêm chất nhờn bài tiết và lớp tế bào rơi rớt mà tạo thành một lớp dơ bẩn màu sẫm, dẫn đến da quy đầu bị viêm, thậm chí tạo thành kết thạch. Sự kích thích mạn tính trường kỳ dẫn đến bệnh UTDV.Người có da quy đầu quá dài ngoài việc có thể bị bệnh ung thư, mà còn gây cho người vợ dễ bị ung thư tử cung và ung thư bộ phận sinh dục của họ.
Những biểu hiện của bệnh UTDV thời kỳ đầu:
- Ngứa ngáy một vùng, cảm giác như nóng bỏng, hoặc cảm thấy hơi đau nhức. Lớp da quy đầu dơ bẩn sau một thời gian lâu tích tổn, độc tố của nó kích thích đầu dương vật làm cho vùng đó bị sưng đỏ. Ban đầu chỉ cảm thấy ngứa ngáy, nóng bỏng. Cảm giác này trở đi trở lại mãi, ngứa quá phải gãi gây loét, độc tố theo đó mà vào dương vật, gây ra cảm giác đau nhức.
- Khối u cứng hoặc đốm đỏ: Đầu dương vật và da quy đầu xuất hiện những cục u cứng nhỏ, hoặc đầu dương vật trở nên nhám, biến thành những cục cứng, hoặc xuất hiện những vết lở loét chữa mãi không lành.Da quy đầu bị sưng hoặc tiết ra những chất mủ hôi tanh.Y học cổ truyền với bệnh UTDVY học cổ truyền quy chứng bệnh này vào phạm trù các loại bệnh như “thận đầu sinh vết loét”, “hoa đèn nến”, “phong phiêu chúc”, “loét da quy đầu”, “thân nhâm sinh hoa”. Tất cả là do can thận âm suy, tướng hỏa nội phát, thủy không nuôi mộc, hỏa làm uất kết mà gây bệnh, nguyên tắc chữa trị của Đông y là lợi ôn giải độc, thanh độc giáng hỏa, tư bổ can thận. Cần phải kết hợp trong uống, ngoài bôi.
Các phương thuốc chữa trị bệnh UTDV
* Theo Tây y: Theo Ths-BS Nguyễn Thành Như, nước tiểu đọng lại quy đầu sau mỗi lần đi tiểu, dẫn đến viêm nhiễm và lâu ngày tế bào sẽ bị ung thư hóa. Bằng chứng là ở những nước mà bé trai được cắt bao quy đầu từ nhỏ, UTDV hầu như không có mặt.
PGS-TS Đoàn Hữu Nghị, Giám đốc Bệnh viện E Hà Nội, cho biết: UTDV còn được ghi nhận ở những trường hợp sùi mào gà, viêm dương vật và các bệnh lây qua đường tình dục. Không chỉ những đối tượng 40- 70 tuổi, mà ngay cả thanh niên UTDV cũng chiếm tỉ lệ không nhỏ. Một trong những nguyên nhân đơn giản góp phần gây bệnh là do quan hệ tình dục với gái mại dâm. Ông Nghị cũng cho biết, việc chẩn đoán UTDV khá khó khăn vì dễ nhầm với giang mai, hạ cam, lậu... Do đó, để phát hiện bệnh chắc chắn, người bệnh cần được làm sinh thiết. UTDV cũng có thể gặp ở những người không mắc những bệnh lý trên và có thể được giải thích là do vệ sinh cá nhân quá kém. Trong trường hợp này, những viêm nhiễm ở quy đầu và bao quy đầu tạo điều kiện cho bệnh phát triển. Tại Hoa Kỳ, tỉ lệ UTDV chỉ là 1/100.000 dân, nhưng ở những nước đang phát triển thuộc châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh, do người dân có ý thức vệ sinh kém, nên tỉ lệ này gấp 3-4 lần.
Tuổi càng cao càng dễ mắc
Ghi nhận của giới chuyên môn cho thấy, ở độ tuổi dưới 50, tỉ lệ mắc UTDV chiếm khoảng 1/100.000. Tuy nhiên, ở độ tuổi 80, tỉ lệ này tăng gấp 9 lần. Biểu hiện dễ nhận thấy của bệnh là cảm giác đau buốt hay đau âm ỉ ở dương vật, nhất là khi dương vật cương cứng hoặc bị va chạm.
Ngoài ra, khi đi tiểu thường thấy buốt hoặc tiểu khó. Sau mỗi lần quan hệ, dương vật sẽ rỉ máu. Nếu tự quan sát, bệnh nhân sẽ thấy một vùng da đổi màu so với xung quanh hoặc có đám loét hay hoại tử ở trên một nền cứng, khi nắn có nước nhờn đục hoặc mủ hôi chảy ra, có khi có dòi.
Nếu không chữa, chúng sẽ ác tính hóa một cách từ từ. Khi trở thành ung thư, bệnh phát triển rất nhanh.
Tuy nhiên, đối với những người bị hẹp bao quy đầu, các dấu hiệu trên khó phát hiện hơn. Ban đầu chỉ là đám lở loét hay đổi màu dưới bao quy đầu mà bản thân người bị bệnh không thể nhận biết được. Sau đó là nổi u dưới da, bao quy đầu phù nề, khi nắn mạnh có nước nhờn đục hoặc mủ hôi chảy ra. Ở hai bên, hạch bẹn sưng to cứng nhưng lại không gây cảm giác đau.
Gần 90% bệnh nhân tới điều trị muộn
Việc điều trị UTDV thường cho kết quả khả quan nếu được tiến hành sớm. Tuy nhiên, theo ông Đặng Thế Căn, Phó Giám đốc Bệnh viện K Trung ương, có tới gần 90% bệnh nhân bị UTDV đến khám và điều trị khi bệnh đã di căn.
Điển hình có những bệnh nhân cao tuổi do ngại ngùng, cố gắng chịu đựng, để bệnh phát triển âm thầm, u to mới đi khám bệnh. Khi bệnh đã di căn, tỉ lệ người bệnh sống trên 5 năm chỉ còn khoảng 30%. Trong khi đó, nếu được chẩn đoán và điều trị sớm, tỉ lệ khỏi bệnh có thể đạt hơn 90%.
Tại Bệnh viện Bình Dân TPHCM, biện pháp điều trị là phẫu thuật đoạn dương vật sát gốc, nạo hạch bẹn và kết hợp với hóa trị liệu. Sau 6 tháng đến 1 năm, bệnh nhân sẽ được khám lại và nếu muốn có con thì sẽ được bác sĩ kéo dài dương vật thêm 2-3 cm, mọi quan hệ sau đó đều hoàn toàn bình thường. (Theo Người Lao Động)

* Theo Đông y:
Bài 1: Giải độc thangKim ngân hoa 30g, địa đinh 30g, bồ công anh 30g, hoàng bá 20g, bạch hoa xà thiệt thảo 60g, thổ phục linh 30g, bát nguyệt trát 40g, hoàng kỳ 15g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần sáng, chiều. Mỗi đợt uống 5 ngày.
Bài 2: Thanh nhiệt tiêu thũngGiang bản quy 30g, bán biên liên 30g, thạch đả xuyên 30g, trạch tất 10g, đạm trúc diệp 30g, thổ bối mẫu 20g, sinh ý nhân 60g. Sắc uống ngày 1 thang chia 2 lần sáng, chiều. Mỗi đợt uống 5 ngày.
Thuốc chữa ngoài
Bài 1: Ô mai 27 quả, nước muối loãng (0,9%) 1 lít, đổ vào nồi đất nấu cho sôi rồi dùng lửa riu riu nấu thêm 20 phút trong 24 giờ, chia ra 6 lần uống, mỗi lần uống 30ml đồng thời lấy nước thuốc thoa vào chỗ đau loét. Lúc uống thuốc kỵ ăn đường đỏ, rượu trắng và các món kích thích chua, cay.
Bài 2: Bách hợp tươi lượng thích hợp giã nát, bó vào dương vật. Mỗi ngày 2-3 lần, nếu không có thuốc tươi, dùng thuốc khô, nấu thành cao mà thoa, băng.Ăn uống với người bệnh UTDV như thế nào?Người bệnh UTDV nên ăn những thực phẩm có chất đề kháng ung thư, ngừa sự truyền nhiễm như hồ đào, qua lâu, đậu cổ, quả trám (cảm lãm), hạnh nhân, mướp, cá diếc...
- Để tăng cường sức miễn dịch, có thể dùng: ba ba, cá quả, cá trắm đen...
- Đối với triệu chứng mà dùng thực phẩm chống lở loét như rau má, tiểu hoa, lá kim châm, hải điểu ngư, cá thu, rau dầu, khoai môn (sọ), đậu xanh, đậu đỏ, trầm tiểu phấn, mã lan cầu, cá chạch, cá cháy.
- Tuyến tinh hoàn sưng to thì dùng: Khoai môn (sọ), hồng hoa, củ năng, bách hợp, dâu, ốc lác, hoàng nhan ngư, thịt mèo, bao tử dê.- Ăn uống cấm kỵ những thực phẩm làm gia tăng sự phát triển của bệnh, tuyệt đối cấm dùng các thực phẩm ôn nhiệt như thịt dê, thịt chó, hẹ...
Dưới đây là một số món ăn bài thuốc hỗ trợ chữa UTDV:
- Hạnh nhân hạnh đào: Hạnh nhân 5g, hạnh đào nhục 2 quả, cùng nặn cho mịn rồi chậm rãi mà nhai.
- Sơn hạnh cá diếc: Sơn dược 9g, hạnh nhân 9g, để vào bụng cá diếc, thêm gia vị nấu ăn.- Rau sam (rau trường thọ, mã xĩ hiện) xào thịt: Mã xĩ hiện tươi 30-60g, rửa sạch xào với thịt.
- Sâm, kỷ tử nấu bồ câu mái: Bồ câu làm sạch lông, bỏ phủ tạng rửa sạch nướng sơ qua. Thêm hành, gừng, đường, rượu vào hấp. Khi nước bốc lên, đổ nhân sâm vào, nước cốt câu kỷ tử nấu sôi, đổ vào trong thân bồ câu.
- Canh cá thu: Cá thu 1 con, thêm gia vị nấu canh ăn.Phương pháp phòng bệnh UTDVPhương pháp hiệu quả nhất để phòng ngừa bệnh UTDV là cắt hẹp da quy đầu khi còn trẻ. Thường xuyên làm vệ sinh sạch da quy đầu. Kinh nghiệm chứng minh người càng giữ vệ sinh sạch sẽ, càng ít bị mắc bệnh UTDV. Lương y Hoài Vũ(http://www.suckhoe.com.vn/khoe24/index.php/co-quan-sinh-duc-nam/47-co-quan-sinh-duc-nam/1608-phong-va-dieu-tri-ung-thu-cua-quy)

3. Phòng ngừa ung thư: Khả thi hay ảo tưởng?
Không quá lời khi ai đó đã so sánh chẩn đoán ung thư với một bản án tử hình nghiệt ngã là tuy chưa biết ngày thi hành án nhưng bị cáo lại mất quyền kháng án. Với người thầy thuốc chuyên khoa thì nhận xét này quá bi quan vì kết quả điều trị ung thư đã cải thiện thấy rõ trong một thập niên gần đây.
Theo đúng quy luật thiên nhiên “tre già, măng mọc”, nhiều loại tế bào trong cơ thể phải được sinh sản để thay thế số tế bào đến tuổi nghỉ việc. Nếu mọi chuyện đều “thuận buồm xuôi gió” thì đã không có ngành ung bướu. Trong tiến trình phân hóa, tế bào vì lý do nào đó thay vì phân đôi để cung cấp hai tế bào mới có cấu trúc đồng bộ và lành mạnh như tế bào gốc, thì chúng lại phân chia thành hai tế bào có cấu trúc biến đổi.
Tế bào ung thư, “trăm bề độc ác”
Loại tế bào “quái thai” này, mang tên ung thư, chẳng những không giữ nguyên chức năng hữu ích cho cơ thể mà còn gây hại đủ điều vì phát triển nhanh hơn tế bào bình thường gấp trăm lần. Không chỉ hung hăng dành hết chất dinh dưỡng và dưỡng khí để tiếp tục đột biến, tế bào ung thư còn xâm lấn cơ quan, chèn ép mạch máu, phóng thích độc tố rồi theo dòng máu tạo điểm di căn trên khắp các nội tạng khiến người bệnh suy sụp sức kháng bệnh. Có nhiều tác nhân khiến tế bào đang bình thường bỗng phân hóa một cách ngẫu biến ngoài vòng kiểm soát, từ các độc chất trong môi trường ô nhiễm, bội nhiễm, rối loạn nội tiết tố cho đến... chấn động tâm lý. Nhưng cho dù là nguyên nhân gì thì ung thư cũng là một sản phẩm của chính cơ thể người bệnh. Câu hỏi chỉ là tại sao tế bào lại phản ứng sai lầm, vì không phải tế bào nào cũng phản ứng tai hại như thế khi đối đầu với một kích ứng nào đó.
Phòng ngừa theo cơ chế sinh học
Với người bệnh thì đoạn phân tích trên có thể hoàn toàn vô ích nếu câu hỏi sau đây không tìm được lời giải, đó là: Nếu bệnh ung thư ghê gớm đến thế thì liệu có cách nào phòng ngừa được hay không? Khi bàn về mục tiêu và phương án đối phó với ung thư, người thầy thuốc hiện nay chia thành hai nhóm rõ rệt. Với nhà điều trị đặt nặng giá trị vào tiến bộ khoa học kỹ thuật, thì biện pháp điều trị ung thư chính là định bệnh chính xác kết hợp với liệu pháp đặc hiệu tùy theo từng trường hợp cá biệt, loại ung thư và mức độ trầm trọng của căn bệnh. Trên cơ sở đó, bác sĩ chuyên khoa ung bướu sẽ chọn cho người bệnh 1 trong 3 phương pháp: phẫu thuật, xạ trị hay hóa trị, hoặc phối hợp các phương pháp vừa kể. Phương án này đương nhiên là biện pháp bất khả kháng khi cả thầy thuốc lẫn bệnh nhân không còn giải pháp nào khác trước sự đe dọa của khối ung bướu ở mức độ nguy hiểm đến tính mạng.
Nhưng với người thầy thuốc coi trọng tính chất sinh học và toàn diện của liệu pháp thì vấn đề cốt lõi trong điều trị ung thư là làm sao tăng cường sức đề kháng của cơ thể, đồng thời tìm cách bảo vệ cấu trúc tế bào và giới hạn các yếu tố rủi ro. Trong chiều hướng đó, bên cạnh việc tổ chức nếp sinh hoạt hợp lý nhằm giảm thiểu tối đa stress, thực hành chế độ dinh dưỡng hợp lý nhằm cung ứng cho cơ thể đầy đủ dưỡng chất, cụ thể là các loại sinh tố (tiền sinh tố A, sinh tố C, E), khoáng tố (kẽm, selen, vanadium, germanium), enzyme kháng ung thư (bromalin, papain), nhiều nhà điều trị đang mạnh dạn áp dụng các hoạt chất trong nguồn dược liệu thiên nhiên (flavon, phytosteroid, 3-Omega...) có công năng ngăn chặn tình trạng ngẫu biến của tế bào. Biện pháp nào tất nhiên chỉ hữu dụng như mong muốn khi được áp dụng trong thời gian lâu dài và trong thời điểm bệnh chưa bộc phát cấp tính.
Phòng ngừa, bao giờ cũng đơn giản và hiệu quả hơn điều trị
Sau thời gian dài nghiên cứu, phương pháp ứng dụng hoạt chất thiên nhiên để phòng ngừa ung thư trên cơ chế sinh học không còn xa lạ ở Âu Mỹ và đang được kết hợp trong nhiều phác đồ dự phòng và điều trị hậu ung thư. Cho dù có phát hiện sớm tế bào ung thư thông qua chương trình tầm soát định kỳ và đúng bài bản như đang được tiến hành ở nhiều nước tiên tiến, thì việc điều chỉnh tế bào đã biến thể, ngăn chặn khả năng phát triển của ung bướu đã đủ sức định hình, chắc chắn phức tạp hơn biện pháp tìm cách bảo vệ tế bào khi tế bào còn khỏe mạnh. Phòng bệnh bao giờ cũng đơn giản, hiệu quả và an toàn hơn chữa bệnh. Với ung thư cũng thế!
Hiệp hai là hiệp quyết định
Với phương tiện kỹ thuật tiến bộ hiện nay, rõ ràng ung thư không còn là căn bệnh nan y. Tuy vậy, việc điều trị ung thư không phải lúc nào cũng đạt được kết quả như mong muốn, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố nằm ngoài tầm tay của thầy thuốc chuyên khoa, thí dụ:
- Bệnh có nhiều hy vọng chữa lành nếu được chẩn đoán sớm. Không lạ gì khi các hãng bảo hiểm y tế ở châu Âu, dù trong hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, vẫn đài thọ hoàn toàn cho các chương trình tầm soát ung thư định kỳ cho khách hàng, nam cũng như nữ, từ tuổi 45.
- Điều trị ung thư không quá khó nếu được tiến hành đúng lúc. Do đó, ngày nào thuốc trị ung thư còn quá đắt tiền thì con số bệnh nhân nhập viện trễ vẫn còn cao.
- Hiệu quả của quy trình điều trị, dù là phẫu thuật, hóa trị hay xạ trị, chỉ được cải thiện rõ rệt nếu người thầy thuốc đồng thời cũng chú trọng đến thể trạng và tâm lý của người bệnh trong suốt liệu trình.
- Tỷ lệ tái phát tùy thuộc vào hiệu năng của chương trình điều trị hậu ung thư với hoạt chất sinh học và biện pháp kiểm tra di căn định kỳ.
Suy cho cùng, cắt bỏ khối u, tiêu diệt tế bào ung thư bằng tia xạ hay hóa chất chỉ là chiến thuật cầm chân đối thủ trong hiệp đầu. Kết quả thực sự của trận đấu mới tùy thuộc vào diễn tiến của hiệp hai, đôi khi quyết định ở... phút 89!


4.Sữa ong chúa và phấn hoa ong
Sữa ong chúa có màu trắng sữa, hơi vàng, vị hơi chua, rất giàu chất dinh dưỡng do có nhiều chất đạm và vitamin. Phấn hoa ong là phần trên các nhị hoa mà trong khi hút mật ong gom lại và đem về tổ, là nguồn cung cấp năng lượng, làm hưng phấn thần kinh, giảm mệt mỏi. Sữa ong chúa Theo một số tác giả, sữa ong chúa là một loại dịch đặc biệt, do tuyến họng của ong thợ tiết ra. Ấu trùng được nuôi bằng loại dịch mật này sẽ trở thành ong chúa sống lâu gấp 50 lần ong thợ, và đây cũng là thức ăn của ong chúa nên gọi là sữa ong chúa. Mật ong thường và sữa ong chúa có khác nhau. Mật ong thường không có các axit vô cơ, dextrin hay tinh bộ chỉ có một số đường, axit hữu cơ và các men tiêu hóa. Trong sữa ong chúa tỷ lệ đường ít hơn, có nhiều chất mỡ, chất đạm và các vitamin hơn mật ong thường. Theo Đông y, sữa ong chúa có màu trắng sữa, hơi vàng, vị hơi chua, rất giàu chất dinh dưỡng do có nhiều chất đạm và vitamin. Xưa nay nói đến sữa ong chúa người ta thường nghĩ đến khả năng cải thiện tình dục và chữa chứng bất lực ở nam giới, cải thiện sự cương cứng và phóng tinh; gia tăng số lượng và chất lượng tinh trùng. Những nghiên cứu gần đây cho thấy sữa ong chúa còn có rất nhiều tác dụng khác, có thể kể: + Chống lão hóa, chống ung thư và phóng xạ. + Nâng cao năng lực tư duy và trí nhớ. + Tăng cường sức co bóp của cơ tim. + Thúc đẩy quá trình sinh trưởng phát dục của cơ thể. + Hạ huyết áp và phòng chống tích cực vữa xơ động mạch. + Cải thiện công năng tạo máu của tủy xương. + Thúc đẩy sự phục hồi chức năng của các cơ quan như gan, thận, thần kinh. + Đặc biệt tăng cường khả năng sinh dục và sinh sản, nâng cao sức đề kháng và miễn dịch của cơ thể. Nếu dùng liều cao sẽ có tác dụng an thần, phòng chống mất ngủ. Cách dùng: có thể uống, nhỏ giọt dưới lưỡi, bôi bên ngoài, thậm chí tiêm bắp. Thông dụng nhất là uống, tùy theo mục đích sử dụng mà liều lượng uống có khác nhau: Sữa ong chúa không uống riêng, khi dùng thường theo cách phối hợp 1% sữa ong chúa với mật ong hoặc có thể thêm rượu trắng. Liều dùng: Trẻ dưới 5 tuổi uống 5mg/ngày; từ 5 - 10 tuổi : 10mg/ngày; trên 10 tuổi: 20mg/ngày, chia làm hai lần sáng và chiều. Thời gian tác dụng sau uống 4 tuần, liệu trình uống một đợt có thể kéo dài 6 - 10 tuần. Bảo quản: trong tủ lạnh (để trong tủ đá) có thể dùng trong một năm. Trộn sữa ong chúa với mật ong theo tỷ lệ 5 phần sữa ong chúa và 95 phần mật ong. Phấn hoa ong Phấn hoa ong là phần trên các nhị hoa mà trong khi hút mật ong gom lại và đem về tổ. Nhiều tác giả cho rằng phấn hoa ong là nguồn cung cấp năng lượng, làm hưng phấn thần kinh, giảm mệt mỏi. Thành phần của phấn hoa ong cũng giống như sữa ong chúa gồm các chất đường, chất béo, các protein đầu bảng và các chất khoáng - vitamin. Chính các vitamin và khoáng chất này kích thích hoạt động của các tuyến làm chấn hưng và tăng cường sinh lực. Các nhà nghiên cứu nhận thấy ở châu Âu vào mùa ong làm mật, người nuôi ong được hít thở nhiều phấn hoa nên hoạt bát hơn các thời gian khác trong năm. Theo Đông y, phấn hoa ong có vị ngọt, tính bình, thường được dùng để trị các chứng: + Hoa mắt chóng mặt, đau lưng, mỏi gối. + Mất ngủ, ăn kém, tiểu đêm nhiều lần. + Suy giảm tình dục, liệt dương, di tinh. + Mệt mỏi rã rời, bồn chồn, bực bội. + Xuất tinh sớm, muộn con, tắt kinh sớm. Ngày nay nhiều nghiên cứu cho thấy phấn hoa ong có tác dụng phòng chống một số bệnh như: + Tăng huyết áp, vữa xơ động mạch. + Đái tháo đường. + Viêm dạ dày. + Viêm gan. + Giảm khả năng phì đại của tuyến tiền liệt. + Phòng chống ung thư, tăng cường khả năng tình dục. Cách dùng: Thường dùng phấn hoa ong bằng cách ăn tự nhiên hoặc pha với nước sôi để uống, ngâm rượu hoặc trộn với mật ong để dùng. Liều dùng: 5gr chia uống 2-3 lần/ngày. Theo Thanh Niên

5. Sữa uống - Loại nào tốt nhất?Thế giới sữa ngày càng đa dạng với đủ các loại: sữa tươi, sữa chua, sữa bột, sữa đặc… Sở thích thì khó có thể thay đổi nhưng nếu nó không thực sự tốt cho cơ thể, bạn cũng nên điều chỉnh chút ít, đúng không?
Sữa tự nhiên là tốt nhất
Sữa mẹ là sữa được tạo thành từ vú của người phụ nữ sau khi có thai, bắt đầu có nhiều từ khoảng 24 đến 48 tiếng sau khi sinh. Sữa mẹ được xem như là nguồn dinh dưỡng quan trọng nhất cho trẻ sơ sinh, trước khi trẻ có thể tiêu hóa các loại thực phẩm khác.Sữa mẹ có đầy đủ các chất mỡ, tinh bột, đạm, vitamin.
Đặc biệt là:
Casein - là một chất đạm đặc biệt trong sữa mẹ giúp ngăn chặn bịnh tiêu chảy, nhiễm trùng hô hấp, viêm tai, và dị ứng.
Sắt - sữa mẹ có đủ chất sắt cho em bé. Tuy sữa bò, sữa bột có nhiều lượng sắt hơn sữa mẹ, chất sắt của sữa mẹ dễ cho em bé thu nhận hơn.
Lactose - sữa mẹ có nhiều chất lactose, giúp em bé thu nhận chất sắt.
Vitamin C - vitamin này cũng góp phần giúp em bé thu nhận chất sắt.
DHA - Docosahexaenoic acid giúp phát triển não và mắt.
Lipase - men này giúp em bé tiêu hóa và thu nhận các chất mỡ.
Lactase - giúp thu nhận đường lactose trong sữa mẹ. Chất lactose giúp phát triển não bộ và thần kinh và điều hòa sinh khuẩn trong ruột.
Amylase - giúp tiêu hóa các chất tinh bột.

Sữa tự nhiên tức là sữa “xuất lò” từ những chú bò đấy. Vậy nên, những loại sữa có công thức pha chế gần giống sữa bò là tốt nhất.
Ví dụ nhé, sữa bột mà pha đúng tỉ lệ hướng dẫn sẽ tốt y như sữa bò vậy. Còn nếu pha loãng hay đặc hơn, nhiệt độ không đúng tiêu chuẩn (khoảng 50 - 60độ C) thì sẽ kém hiệu quả đi rất nhiều.
Sữa tươi đóng hộp thực chất là sữa bột được các công ty sữa pha chế, thêm chất bảo quản, đóng hộp để tiện dùng. Nên chọn các nhãn hiệu sữa có uy tín để đảm bảo tiêu chuẩn dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
Sữa chua uống chỉ đơn thuần để giải khát, không cung cấp đủ Canxi và chất dinh dưỡng thiết yếu.
Sữa đặc có đường thì đường còn nhiều hơn cả sữa trong khi canxi và chất đạm rất ít ỏi. Chỉ thích hợp cho người ốm và ly cà phê.
Béo hay không béo?
Thêm vài muỗng Milo, Ovantine sẽ làm tăng “sức ép” cho cái kim cân vì những muỗng “đen” thêm thắt này đều giàu chất béo, đường và năng lượng nữa. Nhưng điều này cũng chỉ đáng sợ với những bạn có nguy cơ Tròn Vo thôi. Còn bình thường thì không lo đâu vì tuổi teen cũng tiêu hao nhiều năng lượng trong ngày mà.
Vỏ hộp sữa chi chít các con số dinh dưỡng, nhìn hoa cả mắt. Làm sao “nhận dạng” được sữa ít béo đây?
Sữa ít béo có nhiều tên lắm: sữa ít béo, sữa gầy, sữa tách bơ… Bạn có thể dựa vào tên “đính kèm” để nhận dạng sữa. Có thể xem giá trị thành phần dinh dưỡng ghi trên vỏ hộp. Nếu chất béo chiếm dưới 3% thì được coi là ít béo, còn dưới 1,5% thì gần như là không béo luôn.
Sữa có đường chỉ ngọt hơn chứ không béo hơn sữa không đường. Sữa tiệt trùng không phải là sữa ít béo nhé. Vì nó vốn là sữa nguyên kem được tiệt trùng đi cho an toàn cái bụng thôi.
Sữa theo lứa tuổi?
Nhiều bạn băn khoăn không biết mình mới 16 tuổi có được phép uống sữa canxi dành cho người 19 tuổi không? Câu trả lời là hoàn toàn được. Thậm chí, bé tũn tĩn 2 - 3 tuổi cũng uống được.
Nguyên tắc chung là chỉ cần trên 1 tuổi là “được phép” tiếp xúc với các loại sữa pha rồi.
Sữa chua vừa ngon lại vừa tốt nữa, ăn sữa chua thay cho việc uống sữa luôn, được chứ nhỉ?
Sữa chua rất tốt, đặc biệt với những ai bị rối loạn tiêu hóa. Nhưng sữa chua không thể ăn tù tì hoài, chỉ dừng ở 200ml/ngày là đủ rồi. Thứ nhất vì vị sữa chua ảnh hưởng không tốt tới dạ dày. Thứ nhì là thành phần men vi sinh vật nếu nhiều quá mức sẽ “phản chủ”, gây rối loạn tiêu hóa.
Không uống sữa thay nước
Đối với tuổi teen, trong thời kỳ dậy thì “trọng điểm” (dưới 15 tuổi) thì cần 1 - 2 lít sữa mỗi ngày. Còn sau 15 tuổi thì cần trung bình 500ml sữa mỗi ngày. Nên rải rác thời gian cả ngày để uống sữa. Trừ những bạn tròn vo thì nên tập trung uống sữa vào bữa sáng là tốt nhất.
Không nên uống sữa thay nước. Chúng chiếm thể tích như nhau nhưng sữa thì có năng lượng, thế nên sẽ gây dư thừa mức năng lượng cần thiết của cơ thể, tích tụ thành mỡ dự trữ, khiến bạn béo tròn.
Theo BS Đào Thị Yến Phi(Hoa học trò)

6.Sữa mẹ: là nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho trẻ nhỏ với hơn 100 chất dinh dưỡng trong đó có những chất thúc đẩy sự phát triển của não. Tuy nhiên nhiều bà mẹ đã bị thuyết phục bởi một số quảng cáo thổi phồng giá trị dinh dưỡng của sản phẩm sữa bột.
Từ bốn năm trước, các công ty sản xuất sữa bột ở Thái Lan bắt đầu đẩy mạnh các sản phẩm có axit DHA và AA và kể từ đó họ đã thực hiện một chiến dịch quảng cáo rầm rộ. Theo điều tra mới đây của trường Đại học ABAC (Thái Lan), phần lớn các bà mẹ trẻ ở Bangkok có con dưới 1 tuổi cho biết các quảng cáo sữa bột đã thuyết phục họ chọn các sản phẩm sữa bò thay cho sữa mẹ.
Nuôi con bằng sữa mẹ: Tốt cho cả mẹ và bé:
Gần nửa số người được hỏi cho biết họ đã xem các quảng cáo sữa bột DHA và AA, 65% các bà mẹ nói họ bị thuyết phục bởi các lợi ích sức khoẻ của các sản phẩm sữa bột đối với trẻ nhỏ.
Trước tình trạng này, mới đây, Quỹ Sức khoẻ Thái Lan đã tổ chức một hội thảo về các quảng cáo sữa bột và ảnh hưởng của chúng tới các bà mẹ.
Tại hội thảo, các chuyên gia nhận định việc các nhà sản xuất quảng cáo về tác dụng phát triển não của sữa bột đang ngăn ngừa các bà mẹ ở Thái Lan nuôi con bằng sữa mẹ. Thậm chí một số nhà sản xuất sữa bột còn đưa thông tin sai về lượng DHA và AA trong các sản phẩm sữa.
Tiến sỹ Weerapong Chattranont, cố vấn cho Trung tâm Sữa mẹ của Thái Lan cho biết một số quảng cáo sản phẩm sữa bột nhấn mạnh rằng hàm lượng axit DHA và AA cao trong sữa bột rất cần thiết cho sự phát triển não của trẻ nhỏ.
Các quảng cáo đã lừa dối khi nói rằng các sản phẩm giàu lượng DHA và AA không có gì khác với sữa mẹ và quan trọng cho sự phát triển trí tuệ của trẻ. Nhiều quảng cáo không xác thực vì thực ra những thành phần có trong sữa mẹ đã đủ cho sự phát triển não bộ của trẻ.
Một số quảng cáo nói rằng việc bổ sung DHA và AA khiến cho sữa bột tương đương hoặc thậm chí tốt hơn sữa mẹ.
Song TS. Weerapong khẳng định thực ra yếu tố quan trọng nhất cho phát triển não của trẻ là gien và sữa mẹ.
DHA và AA có thể hỗ trợ cho việc phát triển não nhưng thực tế là hai chất này có sẵn trong sữa mẹ song lại không có trong sữa bò.
Vì vậy, các nhà sản xuất phải bổ sung DHA và AA vào trong sản phẩm sữa bột.
Tuy nhiên, những sản phẩm này không thể cạnh tranh với sữa mẹ, vì sữa mẹ có hơn 100 chất dinh dưỡng trong đó có những chất thúc đẩy sự phát triển của não.
Nghiên cứu cho thấy nuôi con bằng sữa mẹ giảm nguy cơ và độ nguy hiểm của các bệnh nhiễm ở tai, tiêu chảy và viêm màng não vi khuẩn ở trẻ nhỏ và có thể giúp ngăn ngừa trẻ tử vong trong khi ngủ, ngừa bệnh tiểu đường, béo phì và hen suyễn. Sữa mẹ đáp ứng tất cả nhu cầu dinh dưỡng của trẻ và rất quan trọng cho việc tạo nên sức miễn dịch và ngăn ngừa nhiễm bệnh ở trẻ.
Hơn thế nữa, cho con bú làm giảm nguy cơ bị ung thư vú và ung thư buồng trứng cho người mẹ. TS. Weerapong kêu gọi chính quyền Thái Lan cấm quảng cáo sản phẩm sữa bột cho trẻ nhỏ như một số nước đã thực hiện.
Hiện nay, chính quyền bang Massachusetts (Mỹ) đang cân nhắc việc cấm các bệnh viện phát các mẫu sản phẩm sữa bột miễn phí dành cho trẻ sơ sinh do các công ty sản xuất sữa cung cấp. Massachusetts có thể sẽ là bang đầu tiên ở Mỹ ra lệnh cấm này.


7. Rượu thuốc và thuốc rượu
Trong Đông y, rượu thuốc là loại rượu dùng để chiết xuất và dẫn thuốc trong cơ thể. Còn thuốc rượu là rượu để chiết xuất thuốc dùng ngoài, không uống, có nhiều nơi gọi là “cồn xoa bóp”.
Thuốc của y học cổ truyền được khai thác từ 3 nguồn: thực vật (cây, hoa, lá, rễ, củ), động vật: (thịt, xương, da, sừng, vẩy….) và khoáng vật (chu sa, thần sa, thạch cao, hoạt thạch, thủy ngân, thạch tín…). Chúng được bào chế nhằm làm tăng tác dụng tốt và giảm tác dụng không có lợi cho người dùng, giúp đưa thuốc vào những bộ phận nhất định. Thuốc y học cổ truyền có nhiều dạng bào chế như: cao, đan, hoàn, tán, thuốc thang sắc uống, thuốc rượu, rượu thuốc.
Rượu thuốc
Ngày xưa, việc làm rượu thuốc rất đơn giản, cứ một nắm xương bồ rửa sạch ngâm rượu thì thành rượu xương bồ. Một nắm hoa kim cúc ngâm rượu thành rượu kim cúc. Dăm con tắc kè làm thịt phơi khô, ngâm rượu thành rượu tắc kè... Sau dần, các vị thuốc để ngâm rượu ngày càng đa dạng với nhiều loại quý. Các triều vua đều có những công thức riêng và gọi là vương tửu. Thời Minh Mạng có rượu Minh Mạng..., và đến nay thì đã có vô số loại rượu thuốc, không thể kể hết được.Rượu ngâm thuốc phải là rượu mạnh, tối thiểu là 45 độ. Rượu quá nhạt không có khả năng chiết xuất thuốc. Có thể thử độ mạnh của rượu bằng cách nhúng que có quấn bông vào rượu, nếu đốt cháy được là rượu mạnh. Rượu vừa mua về hay mới nấu không nên dùng ngay bởi hàm lượng chất aldehid còn cao, có thể gây độc.
Về thuốc ngâm rượu, cần chọn theo mục đích chữa bệnh:
- Chữa nhức mỏi xương khớp: Thiên niên kiện, xuyên khung, ngưu tất, bạch chỉ, độc hoạt, khúc khắc, khương hoạt, rắn...
- Bổ máu: Đương qui, hà thủ ô, kỷ tử, thục địa, quả dâu...
- Bổ thận: Đỗ trọng, ba kích, ích trí nhân, thỏ ty tử, kim anh, khiếm thực, tắc kè, nhung hươu, tục đoạn, dâm dương hoắc, rễ cau.
- An thần dễ ngủ: Long nhãn, táo tàu, hạt sen, viễn chí, hà thủ ô.
- Bổ khí: Mạch môn, hoàng kỳ, nhân sâm.
- Kiện tỳ, ăn ngon miệng: Bạch truật, hoài sơn, hạt sen.
Có vị thuốc làm cho rượu có vị chua như: sơn tra, sơn thù, kim anh, bạch thược... Có thứ làm rượu tăng vị ngọt như long nhãn, thục địa, đại táo, cam thảo, la hán, cỏ ngọt. Đa số động vật ngâm rượu đều có vị tanh như bìm bịp, rắn, trăn, tắc kè, mật gấu...

Thuốc rượu
Thường dùng loại rượu mạnh hơn 60-70 độ. Thuốc để ngâm thường là những vị có nhiều tinh dầu, vị nóng ấm như: hồi, quế, phụ tử, gừng, ô đầu, tinh dầu bạc hà, màng tang, long não... Cũng có khi dùng các vị thuốc hạ huyết phá ứ như hồng hoa, địa liền, xuyên khung, huyết giác, kê huyết đằng, nhũ hương, mộc dược...Để rửa và bôi các vết thương phần mềm, chấn thương sưng đau, có thể dùng các thuốc sau: hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm, xuyên khung, bạch chỉ, nghệ, mật gấu.Để chữa sưng đau răng lợi, có thể dùng các vị đại hồi, tế tân, bạch chỉ, rễ tranh, hoàng liên...
(Theo Sức Khỏe & Đời Sống)


8.Công thức rượu thuốc Minh Mạng
Trong những phương thuốc do quan ngự y soạn cho vua Minh Mạng, mỗi bài có rất nhiều vị thuốc, thường là từ 20 loại trở lên, có bài bao gồm cả 60-70 vị. Bài ít nhất cũng trên 10 vị thuốc.
Sau đây là bài rượu thuốc Minh Mạng "Đại bổ thận dương", theo lương y Nguyễn Công Đức. Bài thuốc này có công dụng tăng cường khí lực, tạo hưng phấn thần kinh, bồi bổ khí huyết, tăng khả năng sinh lý; dùng chủ trị các trường hợp cơ thể suy nhược lâu ngày, đau lưng, mỏi gối, suy sinh dục...
Thành phần gồm: 20 g nhân sâm, 12 g nhục thung dung. Ngưu tất, cốt toái bổ, chích hoàng kỳ, táo nhân, trần bì mỗi vị 2 chỉ - tương đương 8 g. Đỗ trọng, đơn sâm, xuyên khung, cam cúc hoa, sinh địa, thạch hộc mỗi vị 3 chỉ, tương đương12 g. Đương quy, cẩu kỷ tử, tục đoạn, thục địa mỗi vị 20 g. Ngoài ra có 10 g đẳng sâm cùng 10 quả đại táo và 120 g đường phèn.
Cách chế biến: Đem ngâm các vị thuốc trên với 5 lít rượu nếp loại ngon, ngâm trong 7 ngày đêm. Đường phèn nấu với nửa lít nước sôi, nấu cho đường tan hết ra, để nguội, rồi cho vào bình rượu đã ngâm các vị thuốc trên. Đợi đến 3 tuần sau là có thể đem ra dùng được.
Ngày dùng 3 lần (mỗi lần 1 cốc nhỏ độ 30 ml), uống trước các bữa ăn sáng, trưa, tối. Lưu ý là phải đủ các vị thuốc và đúng liều lượng mới cho hiệu quả cao.(Theo Thanh Niên)

No comments:

Post a Comment