Friday, January 6, 2012

Tản mạn về… Saigon(2)


Ảnh dự thi cuộc thi ảnh Xuân 2011 “Xuân đoàn tụ” do báo Tuổi Trẻ tổ chức, chụp tại đường hoa Nguyễn Huệ, TP. HCM được chọn trên trang bìa báo Tuổi trẻ cuối tuần số 6-2011






Áo dài Việt Hùng – Model: Diễm My * Setup: Nikonvn
Đường hoa với các phân đoạn gồm Hồn Việt, Tết Phương Nam, Tầm Cao Mới, Xuân An Vui, Vào Mùa và Vườn Nhân Ái sẽ chính thức mở cửa phục vụ công chúng trong 7 ngày, từ 19g00 đêm 31/01/2011 (28 tháng chạp) đến 22g00 đêm 06/02/2011 (mùng 4 Tết).
• Nét đẹp và ý nghĩa Đường hoa Nguyễn Huệ 2011:
Năm nay, với chủ đề Hồn Việt, khu công viên Tượng đài Bác nổi bật sắc vàng của hoa mai. Xung quanh Tượng Bác được sắp đặt các bình hoa sen, loài hoa tượng trưng sự giản dị, thanh cao và đằm thắm. Một hành lang dài được được tạo thành bởi những chậu mai vàng khoe sắc thắm.
Tại vòng xoay cây liễu, các loại hoa mang sắc màu của vàng, hồng, đỏ được sắp đặt một cách khéo léo tạo thành một vầng thái dương rạng rỡ như soi rọi ánh bình minh, đem lại sức sống mới cho năm 2011.
Chỉ một vài bước chân về phía trước, phân đoạn đường Nguyễn Huệ từ đường Lê Lợi đến đường Nguyễn Thiệp với chủ đề Tết Phương Nam, đôi mèo hạnh phúc – biểu tượng của năm Tân Mão - sẽ tươi cười chào đón du khách đến với một Tết Phương Nam đúng nghĩa đầy sắc màu đặc trưng. Cụm tiểu cảnh Nắng Phương Nam, gió Phương Nam được thể hiện bằng những thanh gỗ mộc mạc phối hợp với hoa thật tinh tế. Xen kẽ với các tiểu cảnh quạt hoa là những chú mèo chúc xuân đầy nét nghệ thuật, những hình ảnh thân quen của Bánh Tét, dưa hấu, liễn đối chúc xuân, trống hoa đua nở góp phần tạo nên một không khí xuân chào năm mới
Đoạn Đường hoa từ đường Nguyễn Thiệp đến đường Huỳnh Thúc Kháng chủ đề Tầm Cao Mới với biểu tượng chính là những vòng hoa tượng trưng cho những vòng tay vươn lên cao thể hiện sự đoàn kết xây dựng, phát triển của Việt Nam trong năm mới. Trong suốt phân đoạn, các tiểu cảnh cách điệu của đèn lồng, hoa tre…sẽ khiến du khách phải dừng chân ngắm nhìn. Tại giao lộ Nguyễn Huệ – Huỳnh Thúc Kháng hình ảnh cánh diều hoành tráng được tạo thành bởi vô số cánh diều nhỏ thể hiện sự đoàn kết, chung sức của người dân vì sự phát triển của đất nước Việt Nam thân yêu.
Hơi nước mát dịu từ hồ nước được thiết kế theo phong cách hiện đại phối hợp tinh tế với các loại hoa kiểng bình dị, một trong các tiểu cảnh của phân đoạn Xuân An Vui kéo dài từ đường Huỳnh Thúc Kháng đến đường Ngô Đức Kế. Các tiểu cảnh Vòm hoa lan, cánh sen cách điệu, thúng hoa, ghe hoa và hoa rừng là sự kết hợp tuyệt vời giữa hoa và các chất liệu mộc mạc của tre, trúc mang lại cho du khách một cảm giác nhẹ nhàng, thư thái. Nối liền với đại cảnh Hồ Sen, các tiểu cảnh giỏ hoa tình yêu, xe đạp hoa, ngôi nhà hoa hồng thay lời chúc xuân của Thành phố Hồ Chí Minh đến tất cả mọi người.
Phân đoạn từ đường Ngô Đức Kế và đường Hải Triều với thông điệp Vào Mùa đưa du khách vào một vụ mùa bội thu với hoa trái to tròn, với ô vuông phơi lúa, với những chậu gốm và hoa bung mình trong nắng. Dọc hai bên đường, những bức tranh Tết, thiệp chúc Tết, phướn Đường hoa đầy màu sắc như hòa thêm với niềm vui của một ngày mùa.
Đang đắm mình trong không gian của vùng quê trù phú với các nông phẩm kết hợp với chất liệu gốm sứ, du khách sẽ bị thu hút bởi một cây mai vàng rực nằm giữa một hồ nước xinh xắn – Hồ Chúc Phúc tiểu cảnh chính của phân đoạn từ đường Hải Triều đến đường Tôn Đức Thắng với chủ đề Vườn Nhân Ái. Tại khu vực này, Ban Tổ chức Đường hoa và Công ty CP Kinh Đô trao tặng du khách những tấm thiệp xinh xắn. Cây mai vàng khoe sắc không chỉ là một phần của tiểu cảnh mà còn là nơi để treo các thiệp Tết do du khách ghi câu chúc với mong ước chuyển những lời chúc đầy yêu hương, phước lành đến người thân.
Hồ Chúc Phúc đã từng hiện diện tại Đường hoa Mậu Tý 2008 lại một lần nữa hội ngộ cùng du khách. Xuân Tân Mão này, toàn bộ sự sẻ chia của du khách dành cho đồng bào vùng thiên tai thông qua những đồng xu được thả vào hồ Chúc Phúc cùng với số tiền do công ty CP Kinh Đô đóng góp sẽ được Ban Tổ chức Đường hoa chuyển vào Quỹ hỗ trợ đồng bào vùng thiên tai sau khi kết thúc Đường hoa Nguyễn Huệ 2011.
Tiểu cảnh Lều Hoa tại phân đoạn giáp đường Tôn Đức Thắng là sự kết hợp giữa chất liệu vải và hoa mang hình ảnh một bàn tay nhẹ nhàng ôm lấy những bông hoa nhỏ bé thể hiện cho tinh thần tương thân tương ái của người dân Thành phố.
Đường hoa Nguyễn Huệ 2011 được trưng bày suốt trục đường Nguyễn Huệ, phối âm thanh hài hòa, tôn vẻ đẹp của không gian Xuân. Trưng bày nghệ thuật cắm hoa, tổ chức Hồ Chúc Phúc để quyên góp từ thiện. Bố trí một số điểm cà phê giải khát trước các khách sạn, thương xá Tax và trên vỉa hè để phục vụ khách tham quan. Tổ chức phố đi bộ trên đường Lê Lợi với một số nhóm biểu diễn nhạc cụ dân tộc, múa sạp, trò chơi dân gian,… vào đêm kết thúc Đường hoa (mùng 4 Tết).
• Các đơn vị và cá nhân thiết kế Đường hoa Nguyễn Huệ 2011: Công ty TNHH Đêm Trắng; Ông Chiêm Thành Liêm, Trưởng Phòng Kỹ thuật – Làng Du lịch Bình Quới, Tổng chỉ huy công trình Đường Hoa.
• Nhà tài trợ Đường hoa 2011:
- Tài trợ chính: Công ty CPĐT Vạn Thịnh Phát, Công ty TNHH Xuất Nhập Khẩu Liên Thái Bình Dương (Imex Pan Pacific), công ty CP Kinh Đô, công ty PepsiCo Việt Nam.
- Đồng tài trợ: Công ty DVLH Saigontourist, Làng Du lịch Bình Quới, công ty TNHH MTV Dịch vụ du lịch Phú Thọ và công viên Văn hóa Đầm Sen.



Càphê Sài Gòn đang khoác thêm cho mình một vẻ đẹp mới, nơi những cộng đồng nhỏ tìm đến nhau như một nhu cầu tự thân, chia sẻ với nhau những vẻ đẹp tinh thần đang bị thách thức dữ dội trước cơn lốc của vật chất.
Những nơi chốn tri âm
Hội quán Hội Ngộ là nơi cất giữ bao kỷ niệm đẹp về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Cũng chính nơi đây đã phát hiện và gìn giữ một đội ngũ những giọng ca trẻ, những giọng hát vô danh với những đêm “hát giữa đồng” làm thổn thức lòng người. Linh hồn của hội quán chính là anh Cao Lập, chủ nhân quán Ami Art Café tại Văn Thánh, một không gian mở giữa mặt sông lộng gió, với những buổi ca hát, thơ nhạc, triển lãm hội hoạ hàng tuần độc đáo.
Nhà báo Nguyễn Trọng Chức, người gắn bó nhiều năm với các hoạt động ở hội quán Hội Ngộ và Ami Art Café tỏ ra thích thú: “Hội Ngộ là nơi cất giữ kỷ niệm, cất giữ vẻ đẹp của nhạc Trịnh một cách hồn nhiên, thi vị, phóng khoáng. Còn Ami Art Café Văn Thánh cách đây không lâu còn là một “địa chỉ đen”, vậy mà chỉ cần một thời gian ngắn dưới bàn tay của anh Cao Lập đã hoàn toàn lột xác trở thành không gian thiên nhiên lộng gió của người Sài Gòn ngay cửa ngõ thành phố”.
Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc cũng tỏ ra tâm đắc: “Đối với tôi, hội quán Hội Ngộ là một phát hiện tri âm. Ở đây thấm đẫm chất nhà quê, tình quê, hồn quê, đặc biệt là ngôi nhà mở dành cho những người mê Trịnh Công Sơn. Còn Ami Art Café Văn Thánh lại là không gian lý tưởng để các hoạ sĩ, nhà thơ, nhà văn tổ chức triển lãm. Nếu không có sự đồng cảm lớn giữa người nghệ sĩ, nhà sưu tập với anh Cao Lập, chắc gì họ đã đồng ý mang đến đây những bộ sưu tập quý giá cho mọi người chiêm ngưỡng, tạo nên một hoạt động văn hoá tốt cho Sài Gòn”.
Cùng với Bình Quới, Văn Thánh, mới đây câu lạc bộ Sài Gòn Đẹp, nơi các kiến trúc sư, nhà văn hoá, nhà kinh doanh… gặp nhau với mục đích cùng tìm ra những giải pháp thiết thực để gìn giữ di sản cho Sài Gòn, đã trở thành một địa điểm sinh hoạt thu hút nhiều người có tiếng nói trong xã hội như KTS Nguyễn Văn Tất, chuyên gia kinh tế Phan Chánh Dưỡng… Sau buổi thảo luận sôi nổi về những di sản trong lòng đất do nhà khảo cổ Nguyễn Thị Hậu chủ xướng, câu lạc bộ Sài Gòn Đẹp đang định hình lại 27 con đường xưa của Sài Gòn, để có những góp ý cụ thể với người làm di sản thành phố.
“Buổi sáng một ngàn đôla”
Với nhiều doanh nhân, thời gian được tính ra tiền, và những bài học thực tiễn về quản trị qua những buổi càphê sáng thân tình với các đàn anh, đàn chị của mình rất đáng giá. Anh Huỳnh Trọng Hiếu, tổng giám đốc công ty Indochine Feeds, sau chương trình “Càphê sáng thứ bảy” với chủ đề “Thuê CEO phiên bản 2” thích thú thổ lộ: “Các anh chị có thể bỏ ra bao nhiêu tiền để mua vé tham dự các diễn đàn dành cho doanh nhân? Riêng tôi, với những gì nhận được từ “Càphê sáng thứ bảy”, tôi đánh giá giá vé của các quán chương trình này xứng đáng với mức một ngàn đôla!”
Chị Tô Hồng Trang, phó chủ tịch hội đồng quản trị công ty Digiworld, một phụ nữ thành đạt, rất chịu khó học hỏi cũng đánh giá cao cách chia sẻ từ nhiều phía, đa chiều và rất thân tình của những buổi càphê này: “Tôi thích không khí cởi mở, chuyện trò trực tiếp với nhau không hề có rào cản, chia sẻ cả những cái chưa được, những lúng túng của riêng mình khi phải đối mặt với việc tuyển CEO. Tôi đã dự nhiều diễn đàn dành cho doanh nhân, nhưng thấy không hiệu quả, vì nó quá hình thức và giáo điều. Riêng ở đây, cách trao đổi đào sâu hơn với mỗi người, có sự tương tác giữa chủ doanh nghiệp, người làm thuê, và cả chuyên gia tư vấn. Tôi cảm thấy rất chân tình”… “Càphê sáng thứ bảy” do Plan A Group và hội Doanh nhân trẻ tổ chức đang trở thành một trong những diễn đàn nhận được sự quan tâm của giới doanh nhân TP.HCM và các tỉnh lân cận.
So với hơn 300 năm Sài Gòn – Gia Định được thiết lập nền hành chính, so với hơn 3.000 năm vùng đất này in dấu tích những con người cổ xưa nhất, 35 năm tôi sống ở Sài Gòn chỉ là chớp mắt! Chợt nhận ra dường như mình chưa một lần nói lời yêu với thành phố này.
Nhiều người đã yêu, rất yêu Sài Gòn. Có thể đối với họ đây là nơi chôn nhau cắt rốn, là nơi họ đã rời xa quê nhà vào kiếm sống và được Sài Gòn rộng rãi sẻ chia. Có thể là nơi để lại mối tình đầu, là nơi họ rời bỏ mà luôn mong một ngày quay lại… Nhưng cũng với nhiều người, tình yêu Sài Gòn thật khó có thể bộc lộ thành lời, phải chăng vì Sài Gòn không như một cô gái đẹp dịu dàng, yểu điệu làm người ta dễ cảm mến để rồi thốt vội lời yêu? Sài Gòn mang dáng vẻ của cô gái hiện đại, năng động và bình dị, một vẻ đẹp mà người ta thường ngại ngùng khi muốn ngỏ lời yêu… Nhiều năm trước tôi cũng vậy, mải mê nhớ về thành phố đẹp đến nao lòng của thời thơ ấu, để rồi đến một ngày thu tôi mới nhận ra mình đã yêu Sài Gòn từ khi nào không rõ…
Nhà thờ Đức Bà, Sài Gòn. Ảnh: Giang Huy
Ấn tượng của tôi lần đầu gặp Sài Gòn là bến Bạch Đằng sông rộng nước đầy với những con tàu lớn nằm sát đại lộ Nguyễn Huệ. Đường phố thênh thang luôn tấp nập, hàng cây xanh cao vút trong ánh nắng chói chang, những cô gái đạp xe tà áo dài trắng bay bay trong gió. Những ngôi biệt thự sang trọng ẩn hiện sau tường rào cây xanh, những ngôi chùa rực rỡ đèn điện vôi màu…
So với Hà Nội hay Huế, có vẻ như Sài Gòn thiếu sự lắng đọng “hồn núi sông ngàn năm”, vì đây là thành phố hiện đại kiểu Âu – Mỹ. Nhưng Sài Gòn mang hình hài đặc sắc một đô thị phương Nam “trên bến dưới thuyền”. Khởi thủy, thành Gia Định dựng bên góc sông Sài Gòn và sông Thị Nghè. Kéo dài về phía tây nam vài cây số, là Chợ Lớn, của đa số người Hoa, nằm trên những mối giao nhau của kinh rạch chằng chịt, nối ra sông Sài Gòn bằng rạch Tầu Hũ hay còn gọi là rạch Bến Nghé. Nhắc đến Sài Gòn, người ta nhớ ngay đến hai cái chợ nổi tiếng: Chợ Bến Thành – bến sông thị tứ buôn bán quan trọng nhất của thành Gia Định và Chợ Lớn – đầu mối giao thương lớn nhất Đàng trong.
Giai đoạn hình thành Bến Nghé – Sài Gòn cũng là giai đoạn tụ cư nhanh chóng của những cộng đồng người từ nhiều nơi đến đây. Quá trình khẩn hoang lập ấp, phát triển sản xuất…, lưu dân đã duy trì những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo của quê hương ở vùng đất mới. Đình, chùa, đền, miếu, hội quán… xây dựng trong khoảng 300 năm nay thể hiện sự đa dạng và hội tụ văn hóa của các cộng đồng cư dân và sinh hoạt tinh thần của người Việt, người Hoa, Khmer, Chăm.
Cũng như nhiều nước Đông Nam Á, kiến trúc thời thuộc địa cuối thế kỷ 19 nửa đầu thế kỷ 20 đã để lại cho Sài Gòn nhiều di sản kiến trúc có giá trị nghệ thuật cao. Những con đường ngang dọc lấy sông Sài Gòn làm chuẩn chia thành phố thành những ô vuông. Trên những đường chính là các công sở, khu buôn bán, khách sạn, nhà hàng… Những đường nhỏ là khu cư trú của giới công chức, nhân viên, những biệt thự xinh xắn, rồi những dãy nhà phố, sâu hơn trong hẻm là xóm “nhà lá” của người lao động… Cứ vài ô vuông lại có nhà thờ làm trung tâm sinh hoạt tinh thần. Có thể thấy 3 đỉnh của tam giác trung tâm thành phố chính là 3 nhà thờ: Đức Bà – Tân Định – Huyện Sĩ.
Nhiều người đã yêu, rất yêu Sài Gòn… Nhưng cũng với nhiều người, tình yêu Sài Gòn thật khó có thể bộc lộ thành lời.
Những kiến trúc công sở hay tôn giáo có nhiều chi tiết trang trí mang yếu tố của mỹ thuật Việt, Chămpa, Khmer… Sự kết hợp giữa kết cấu, kiểu dáng kiến trúc, vật liệu xây dựng, đề tài trang trí, giữa phương Tây và phương Đông – bản địa và ngoại sinh, làm cho các công trình ở Sài Gòn thời thuộc Pháp có một phong cách kiến trúc khá đặc biệt, được gọi là phong cách kiến trúc Đông Dương, thể hiện xu thế “chủ nghĩa văn hoá” của kiến trúc đô thị phương Tây trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 – đầu thế kỷ 20 ở nhiều nước Châu Á.
Tính đến tháng 4.2010, toàn thành phố có 124 công trình, địa điểm được xếp hạng di tích, trong đó: 1 di tích quốc gia đặc biệt (dinh Thống Nhất); 53 di tích quốc gia, 70 di tích cấp thành phố. Hệ thống di tích trong cảnh quan chung của một “Sài Gòn xưa” làm nên “bản sắc Sài Gòn”. Nhưng giờ đây “bản sắc Sài Gòn” đang mai một, bởi các công trình cao tầng hiện đại. Con đường Đồng Khởi là một trường hợp như thế. Đây có lẽ là con đường nổi tiếng nhất và có tuổi đời xưa nhất của Sài Gòn.
Nằm ở quận 1, con đường này tập trung nhiều khách sạn sang trọng, cửa hàng, tiệm càphê, hiệu sách… đã trở thành địa chỉ văn hóa quen thuộc với nhiều thế hệ người Sài Gòn. Khu hành lang Eden với rạp chiếu phim, các cửa hàng tơ lụa, đồ lưu niệm, nhà sách Xuân – Thu, đối diện Nhà hát thành phố là tiệm càphê Givral nổi tiếng, nhưng gần đây nó nổi tiếng hơn bởi ca khúc “Vĩnh biệt Givral” – C’est fini Givral. Ca khúc này làm ta nhớ đến bộ phim lãng mạn “Mùa hè cuối cùng ở Capri” đã làm rung động biết bao trái tim, còn bây giờ nó làm nhiều người rưng rưng nước mắt. Một phần quá khứ của Sài Gòn không còn nữa. Givral và những di tích khác mất đi, Sài Gòn có nguy cơ là một thành phố không còn ký ức… Tôi cũng như mọi người, chẳng ai muốn phải nghe “C’est fini…” đối với những di sản văn hóa còn lại của Sài Gòn.
Nhưng Sài Gòn không chỉ có “mất đi” mà đã mở rộng và thay đổi từng ngày. Kênh Nhiêu Lộc, Thị Nghè “nổi tiếng” kênh đen giờ đang được nạo vét, kè bờ, không lâu nữa sẽ là những “con kênh xanh xanh” chảy giữa lòng thành phố. Một dự án con đường trên cao dọc theo hai con kênh này với hàng chục cây cầu bắc ngang sẽ trở thành “điểm nhấn” cho vùng trung tâm cũ của Sài Gòn. Khu quận 4 bên kia cầu Khánh Hội nổi tiếng “xã hội đen” một thời, giờ những con đường rộng rãi, những ngôi nhà khang trang đã hiện lên.
Vùng trũng Nhà Bè mênh mông dừa nước đất vàng phèn mặn, giờ là đại lộ 8 làn xe chạy giữa khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng đẹp như mơ! Những làng xóm ruộng vườn phía Gò Vấp, Tân Bình hay Hóc Môn, Củ Chi cũng đã thành phố mới. Tốc độ đô thị hóa ở Sài Gòn khá nhanh, việc quy hoạch thành phố còn chưa theo kịp sự phát triển, vì vậy không tránh khỏi sự lộn xộn, việc xây dựng tự phát, sự tùy tiện phát triển các khu dân cư xen lẫn thương mại, khu công nghiệp…
Sài Gòn bây giờ đã hơn 7 triệu dân, mà phần lớn là người tứ xứ. Qua nhiều năm khó nhọc mưu sinh, nhiều người đã hiểu nơi ta sinh ra là để gửi nhớ, gửi thương, còn Sài Gòn là nơi mỗi ngày ta có thể sống hết mình… Nếu đừng quá “thiên lệch” lòng yêu thương đối với nơi chôn nhau cắt rốn, thì tình cảm của ta đối với Sài Gòn sẽ công bằng hơn, vì đó là thành phố của mình, vì ta cũng đã là người Sài Gòn! Hiểu người Sài Gòn hơn, ta sẽ nhận ra tấm lòng nặng tình đầy nghĩa của những con người bộc trực phóng khoáng nơi đây.
Ba mươi lăm năm sống ở Sài Gòn, sống với Sài Gòn, liệu tôi có thể nói “Sài Gòn của tôi”? Của tôi, như một quê hương. Của tôi, như một nơi đã cho tôi trưởng thành. Của tôi, như một mối tình nồng nàn mà lặng lẽ thủy chung suốt cả cuộc đời…
TS Nguyễn Thị Hậu
Đường Tôn Đức Thắng
Đường này thuộc loại xưa, lớn và quan trọng nhất của vùng Sài Gòn, thời Pháp thuộc là ba đường khác nhau. Đó là đọan từ cầu Khánh Hội đến công trường Mê Linh năm 1865 mang tên Quai de Donnai, sau đổi là Quai Napoléon. Năm 1870 đổi là Quai du Commerce. Năm 1896 đổi là Quai Francis Garnier. Ngày 26-4-1920 đổi là Quai le Myre de Vilers. Đọan từ công trường Mê Linh đến giáp nhà máy Ba Son, lúc đầu mang tên đường Primauguet. Ngày 26-4-1920 đổi là Quai d’Argonne, và đoạn từ bờ sông vào đến đường Nguyễn Thị Minh Khai là con đường có trước khi Pháp chiếm Sài Gòn. Chính họ đã đi theo con đường này từ trại Thủy Quân lên đánh thành Gia Định và hạ thành ngày 17-2-1859. Năm 1865, người Pháp đặt tên đường Boulevard de la Citadelle. Đến năm 1901, người Pháp mới đặt tên đường Luro. Năm 1955, chính quyền Sài Gòn nhập hai bến Le Myre Vilers và Argonne làm một và đổi tên là bến Bạch Đằng. Còn đường Luro thì đổi là đường Cường Để. Năm 1980, UBND Thành phố nhập bến Bạch Đằng với đường Cường Để làm một, đổi tên là đường Tôn Đức Thắng, nhưng cắt đoạn từ đường Lê Duẩn đến đường Nguyễn Thị Minh Khai nhập vào đường Đinh Tiên Hoàng.
Đường Nguyễn Huệ
Đường này có từ ngày người Pháp mới bắt đầu xây dựng thành phố, mang tên đường Charner. Ngày 22-3-1955, chính quyền Sài Gòn đổi là đường Nguyễn Huệ cho đến nay.
Đường Lê Lợi
Đường này thời Pháp thuộc lúc đầu mang số 13. Từ 1865 gọi là đường Bonard. Ngày 22-3-1955, chính quyền Sài Gòn đổi là đường Lê Lợi cho đến nay.
Đường Đồng Khởi

Thời Pháp thuộc mang số 16. Từ ngày 1-2-1865 người Pháp đặt tên đường Catinát, lúc đó chạy suốt tới Công Trường Công Xã Paris đến Công Trường Quốc Tế thành đường riêng và đặt tên là đường Blancsubé. Từ năm 1955 chính quyền Sài Gòn đổi tên đường Catinat thành đường Tự Do. Ngày 14-8-1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời đổi là đường Đồng Khởi.
Đường Lê Duẩn

Đường này mang tên đường Norodom từ 1871, vì dinh Thống Nhất lúc đó gọi là dinh Norodom. Từ năm 1950, khi cựu hòang đế Bảo Đại lập chính phủ, đặt thủ đô tại Sài Gòn, dinh Norodom được đổi tên thành dinh Độc Lập, và đường Norodom được đổi tên thành đường Thống Nhất. Sau 30-4-1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời đổi dinh Độc Lập thành dinh Thống Nhất và đường Thống Nhất thành đường 30 tháng 4. Năm 1986, sau khi ông Lê Duẩn, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam mất, UBND Thành phố đổi tên là đường Lê Duẩn.
Đường Huyền Trân Công Chúa
Đường này nằm bên hông dinh Norodom, thời Pháp thuộc mang tên đường Miss Cavell. Từ năm 1955, chính quyền Sài Gòn đổi tên là đường Huyền Trân Công Chúa cho đến nay. Khoảng từ năm 1963 đến năm 1975, đường này bị rào bít, cấm lưu thông, vì vấn đề an ninh của dinh Độc Lập. Lộ giới mỗi bên hơn 10m.
Đường Nguyễn Thị Minh Khai
Đường này đã có từ trước khi người Pháp chiếm Sài Gòn và gọi là đường Thiên Lý. Khi người Pháp đến, họ đổi tên là đường Stratégique. Sau khi có bản đồ quy hoạch, họ đổi là đường 25. Từ ngày 1-2-1865, lại đặt tên là đường Chasseloup Laubat. Ngày 22-3-1955, chính quyền Sài Gòn đổi là đường Hồng Thập Tự. Ngày 14-8-1975, Chính phủ Cách mạng Lâm thời nhập chug đường này với đường Hùng Vương ở Thị Nghè, quốc lộ 13 ở Hàng Xanh làm một đường và đặt tên là đường Xô Viết Nghệ Tĩnh. Nhân dịp Quốc khánh 1991, UBND Thành phố lại cắt đoạn như hiện nay, tức đường Hồng Thập Tự cũ thành một đường riêng và đổi tên là đường Nguyễn Thị Minh Khai.
Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa
Đường này thuộc loại xưa nhất, lớn nhất và quan trọng nhất của vùng Sài Gòn nói riêng, thành phố Hồ Chí Minh nói chung. Nó chạy qua dinh Thống Nhất dẫn tới sân bay Tân Sơn Nhất. Thời Pháp thuộc nó mang tên đầu tiên là đường số 26. Từ ngày 1-2-1865, đặt tên đường Impératrice. Năm 1870 đổi tên là đường Mac Mahon. Sau năm 1945, người Pháp trở lại chiếm Sài Gòn, ngày 28-12-1945 họ đổi tên đường là Général de Gaulle. Đến năm 1952, tướng de Lattre de Tassigny bị tử trận trên chiến trường miền Bắc Việt Nam, được truy phong Thống chế, ngày 15-1-1952 người Pháp cắt đoạn từ đường Lý Tự Trọng ra đến bến Chương Dương thành đường riêng và đặt tên là đường Maréchal de Lattre de Tassigny. Từ ngày 22-3-1955, chính quyền Sài Gòn nhập hai đường làm một và đặt tên là đường Công Lý. Nhưng đến ngày 16-5-1955, lại tách đoạn đầu thành đường riêng và lấy lại tên Maréchal de Lattre de Tassigny. Ngày 14-8-1975, Chính phủ Cách mạng Lâm Thời nhập đường De Tassigny với đường Công Lý và đường Cách Mạng 1-11 làm một và đặt tên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Ngày 4-4-1985, UBND thành phố lại cắt đoạn từ cầu Công Lý đến sân bay Tân Sơn Nhất, ngang đường Hoàng Văn Thụ thành đường riêng và đặt tên đường Nguyễn Văn Trỗi. Đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa còn lại chiều dài như hiện nay.
Đường Hàm Nghi

Đường này khi người Pháp mới chiếm Sài Gòn, nó còn con rạch, hai bên bờ có hai con đường cùng mang tên số 3. Về sau đường phía bắc, tức nay là đường một chiều từ đường Tôn Đức Thắng vào chợ Bên Thành, được đặt tên là đường Canton, còn đường bờ phía nam, tức nay là đường một chiều theo hướng chợ Bến Thánh ra đường Tôn Đức Thắng được đặt tên đường D’Ayot. Khoảng năm 1870, con rạch được lấp và hai đường gọi chung tên đường Canton do quyết định ngày 14-5-1877 của Thống đốc Nam kỳ. Từ ngày 24-2-1897, hai đường lại tách riêng, ở giữa có tiểu đảo. Đường phía bắc đặt tên đường Krantz, đường phía nam là Duperré. Từ ngày 22-4-1920, hai đường nhập một và mang tên đại lộ De lka Somme. Từ năm 1955, chính quyền Sài Gòn đổi là đại lộ Hàm Nghi cho đến nay.
Saigon Trade Center có tổng diện tích là 40.000 m2 với 33 tầng lầu, tòa nhà cung cấp các diện tích cho thuê từ 55 – 2.200 m2.

Saigon Trade Center có tổng diện tích là 40.000 m2 với 33 tầng lầu, tòa nhà cung cấp các diện tích cho thuê từ 55 – 2.200 m2.
Tòa nhà nằm cách trung tâm thành phố 5 phút, tọa lạc trên 2 trục đường chính thuận tiện cho việc tiếp xúc với tất cả các khu vực. Khối văn phòng nằm từ tầng 6 tới tầng 30 và tầng trệt, tầng 2 tới tầng 5 dành cho các của hàng bán lẻ, tầng thượng dành cho bar và nhà hàng, tầng hầm dành cho bãi đậu xe. Tòa nhà đã thu hút hơn 100 chủ văn phòng đại diện.
Tòa nhà có 10 thang máy tốc độ cao dành cho khách hàng ở 3 khối lầu, 2 thang máy cho nhân viên phục vụ tòa nhà và 4 thang lăn cho khu vực bán lẻ. Tòa nhà Saigon Trade Center do công ty WMKY Architects Engineer Ltd. (Hồng Kông) thiết kế, công ty Project Start Limited (Hồng Kông) tư vấn, công ty Pentad Construction Company, Ltd (Hồng Kông) làm quản lý dự án
Saigon Trade Center
Địa chỉ: 37 Tôn Đức thắng, Q. 1, TP. Hồ Chí Minh
Lăng Ông Bà Chiểu, tên gọi đúng là Thượng Công miếu, là khu lăng mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt (1764-1832). Khu lăng tọa lạc tại số 1 đường Vũ Tùng, phường 1, quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Cổng chính Lăng Ông Bà Chiểu
Lăng Ông Bà Chiểu
Vị trí, tên gọi
Lăng Ông Bà Chiểu rộng 18.500m2, nằm giữa bốn con đường: Đinh Tiên Hoàng, Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức, Vũ Tùng trên một gò đất cao
Và do lệ kiên cử tên, không biết từ lúc nào, người dân đã ghép hai từ “lăng Ông” với hai từ “Bà Chiểu” để chỉ khu lăng của Tả Quân.
Theo nhà văn Sơn Nam, tên Bà Chiểu là tên vùng đất, chỉ mới xuất hiện thời vua Tự Ðức. Chiểu có nghĩa là ao nước thiên nhiên, Bà Chiểu là nữ thần được thờ bên ao thiên nhiên. Ở Thủ Ðức cũng có vùng đất tên là Linh Chiểu.

Lịch sử
Trong công trình kiến trúc của lăng, được xây dựng sớm nhất là phần mộ
Năm 1835 sau sự biến thành Phiên An, Lê Văn Duyệt bị lên án và buộc tội đã gián tiếp gây nên biến loạn, vua Minh Mạng đã ra chỉ dụ san bằng mộ, xiềng xích sắt, trên dựng bia đá có khắc tám chữ Quyền yểm Lê Văn duyệt phục pháp xử (chỗ tên hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội).
Đến năm Tân Sửu (1841), vua Thiệu Trị lên ngôi cho phá bỏ xiềng xích và đắp lại mộ.
Năm đầu đời Tự Đức (1848), Đông Các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin phục hồi quan tước, gia ơn cho con cháu các công thần, trong đó có Lê Văn Duyệt. Vua Tự Đức xem sớ cảm động mới truy phong lại cho cả ba ông và ban phẩm hàm cho con cháu họ. Lại cho đắp phần mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định cao rộng thêm và cho sửa sang miếu thờ.
Trong khu vực lăng còn có mộ vợ ông là bà Đỗ Thị Phận và hai cô hầu. Ngày 6 tháng 12 năm 1989, toàn bộ khu lăng được Bộ Văn hóa công nhận là di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia.
Và từ khi Hội Thượng Công Quý Tế được thành lập vào năm 1914 việc cúng tế được tổ chức đều đặn hàng năm và việc trùng tu cũng được tiến hành nhiều lần…
Kiến trúc
Chung quanh khu lăng có bức tường bao bọc dài 500m, cao 1,2m được trổ bốn cổng ra vào theo bốn hướng, được xây dựng vào năm 1948. Năm sau, cổng Tam quan cũng được xây. Cổng có hàng đại tự nổi bằng chữ Hán Thượng Công Miếu, được đặt ở hướng Nam, mở ra đường Vũ Tùng. Trước năm 1975, cổng này đã từng được chọn là biểu tượng của vùng Sài Gòn – Gia Định xưa.
Khu lăng được xây dựng trên một trục đường chính, từ cổng Tam Quan vào gồm: Nhà bia-lăng mộ-miếu thờ.
Nhà bia được xây dựng như một ngôi điện nhỏ, tường gạch, mái lợp ngói âm dương. Văn bia chữ hán tiêu đề Lê công miếu bi do Hoàng Cao Khải viết năm Giáp Ngọ 1894. Nội dung bia ca tụng công đức Lê Văn Duyệt đối với triều đình và nhân dân.
Toàn thể khu mộ đều được xây bằng hợp chất. Phần mộ gồm hai ngôi mộ: Tả quân và vợ ông, bà Đỗ Thị Phận. Hai ngôi mộ đặt song song và được cấu tạo giống nhau, có hình dạng như nửa quả trứng ngỗng xẻ theo chiều dọc, úp trên bệ lớn hình chữ nhật. Trước mộ có một sân nhỏ để làm lễ. Từ nơi nhà bia nhìn vào, mộ Lê Văn Duyệt phía bên phải. Bao quanh mộ là một bức tường bằng đá ong dày hình chữ nhật, thông ra tận sân đốt nhang đèn.

Cách khu lăng mộ một khoảng sân rộng đến khu vực “Thượng công linh miếu”, nơi diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân trong việc thờ cúng Lê Văn Duyệt. Bố cục của miếu bao gồm tiền điện, trung điện và chính điện. Mỗi gian điện thờ cách nhau bằng một sân thiên tỉnh (giếng trời). Đối xứng hai bên trục nhà chính là hai dãy Đông lang và Tây lang…
Công trình mang dấu ấn của lối kiến trúc miếu thờ nhà Nguyễn, với những mái “trùng thiềm điệp ốc” và kỹ thuật kết nối khung nhà bằng các lỗ mộng. Ngoài ra, nhờ kỹ thuật chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, khảm sành sứ…mà nơi thờ cúng này còn giữ được vẻ đẹp cổ kính cho đến ngày nay.
Bàn thờ Lê Văn Duyệt nơi trung điện.
Điện thoại: (84-8) 824 6125
Từ ba năm nay, tôi không ngừng khám phá Sài Gòn và Việt Nam. Tôi đến Sài Gòn lần đầu lúc trời chạng vạng tối và còn nhớ như in cảm giác khi đi từ sân bay về nhà cô bạn đồng nghiệp để lưu trú vài ngày. Tiếng ồn, ánh đèn của bảng hiệu trên đường và dòng xe cộ đông nghịt vây quanh taxi của tôi. Xe dừng lại, cô bạn dẫn tôi đi vào con hẻm nhỏ. Tôi bắt đầu khám phá một diện mạo khác của Sài Gòn: mạng lưới hẻm. Chỉ mới vào hẻm được vài bước, tiếng ồn của con đường lớn phía ngoài đã mất dần. Một khung cảnh mới hiện ra: nhiều gia đình ngồi ăn cơm tối ngay bậc cửa, bọn trẻ chạy chơi dưới ánh mắt nhìn chăm chú của hàng xóm.

Hôm sau, trong ánh nắng ban mai, tôi khám phá màu sắc của các căn nhà và không khí nhộn nhịp của các chợ trong hẻm. Mọi thứ đều rất lạ lẫm. Tôi quyết định dạo một vòng trong hẻm và bước đi trong ánh mắt ngạc nhiên của mọi người. Trong suốt nhiều tháng, tôi đi dạo rất nhiều lần trong các con hẻm, khi thì đi một mình, khi thì đi cùng với các bạn sinh viên hoặc chuyên gia quy hoạch đô thị Việt Nam. Lúc đầu, tôi chỉ đi dạo cho vui, sau đó là để làm đề tài tốt nghiệp ngành địa lý đô thị. Hiện nay, tôi đang làm luận án tiến sĩ với đề tài hẻm Sài Gòn. Dần dần, tôi nhận thấy mạng lưới hẻm ở đây thật rộng lớn. Hẻm là cấp đường nhỏ nhất trong hệ thống đường đô thị, nhưng trên hết, hẻm là nơi giao lưu, trao đổi, nơi cuộc sống diễn ra và mỗi khu vực có nét đặc trưng riêng. Mỗi lần đi dạo trong hẻm, tôi đều thấy nhiều điều ngạc nhiên: khi thì một ngôi chùa cổ (rất nhiều ở Chợ Lớn), khi thì tôi nhận ra cuộc sống cộng đồng của những người làm cùng nghề. Ở quận 3, tôi gặp con hẻm của những người chuyên làm bánh, mứt phục vụ tết; ở quận 6, tôi phát hiện hẻm nghề in và ở quận Tân Bình có hẻm thợ may. Theo lẽ thường, người thành phố không biết nhiều về hàng xóm của mình. Thế nhưng, trong hẻm, tình làng nghĩa xóm, tinh thần tương thân tương ái gắn kết mọi người với nhau. Một người dân trong hẻm nói với tôi: “Khi có người hỏi, tôi ở đâu, tôi luôn trả lời bằng tên hẻm của mình trước. Con hẻm đối với tôi như một đại gia đình”.
Mỗi con hẻm đều có lịch sử, kiến trúc và đặc trưng riêng. Giữa hẻm chính và hẻm nhánh có sự khác biệt khá rõ nét. Chợ và hàng quán thường gắn với hẻm chính. Hẻm nhánh như những cánh tay vươn ra từ hẻm chính, thường rất yên tĩnh và được tô điểm bằng các chậu hoa do người dân đặt ở hai bên. Hẻm nhánh thường hẹp hơn và có khi là hẻm cụt. Khi vào hẻm, tôi cứ thế bước đi, bước đi và… rất nhiều lần bị lạc. Nhiều khi thấy tôi đi vào một con hẻm, mọi người cứ nhìn tôi rồi cười. Vài phút sau, tôi hiểu được ý nghĩa của những nụ cười đó: hết đường rồi, tôi đang ở trong hẻm cụt. Chẳng sao cả, tôi quay trở ra và tiếp tục đi, sẵn sàng bị lạc trong mê cung đô thị đầy sức sống và cũng lắm bất ngờ. Đi vào hẻm là đắm mình vào gia đình Việt. Tôi không nhớ hết số lần mình được mọi người niềm nở mời vào tham quan nhà, uống trà và vui cười cùng các em nhỏ. Các bác lớn tuổi rất thích kể về lịch sử và những thay đổi trong con hẻm của mình. Một số bác sống ở đó từ hơn 50 năm nay. Theo năm tháng, ngôi nhà được nâng cấp, xây thêm tầng lầu, nâng nền để chống ngập vào mùa mưa. Tuy môi trường sống có được cải thiện, nhưng nhiều người vẫn luyến tiếc thời con hẻm còn có những bụi tre hai bên, mỗi nhà đều có góc vườn nhỏ và mỗi người đều quen biết với nhau.
Những năm gần đây, dân số Sài Gòn gia tăng nhanh chóng, do đó mật độ xây dựng cũng tăng cao. Các lô đất tại các quận trung tâm và ven trung tâm thường có mật độ xây dựng lên đến 100%. Điều này lý giải tại sao trong khu vực này mật độ đô thị rất cao và có hàng ngàn con hẻm nhỏ với chiều rộng chỉ vài mét.
Tuy kế thừa những gì quá khứ để lại, nhưng các con hẻm cũng không ngừng thay đổi để phù hợp với lối sống của người dân đô thị. Ngày nay, số người sống và làm việc trong con hẻm của mình ngày càng ít vì mỗi sáng họ đi làm ở phường hoặc quận khác bằng xe gắn máy. Một số người đã chuyển nhà đi và căn nhà của họ bị đổi thành cơ sở sản xuất. Hẻm không chỉ gắn với nơi ở mà còn gắn với hoạt động kinh tế ở đô thị. Hiện nay, chính quyền các quận đang tiến hành chương trình nâng cấp, cải tạo hẻm nhằm đáp ứng yêu cầu hiện đại hoá đô thị. Trước mắt, các hạng mục nâng cấp gồm lắp đặt hệ thống cấp, thoát nước và nâng cao hẻm. Mục tiêu xa hơn là mở rộng hẻm để xe hơi có thể vào được và tạo thuận lợi cho giao thông. Nhiều lúc, khi giao thông trên các tuyến đường bị tắc nghẽn vào giờ cao điểm, người điều khiển xe máy không ngần ngại đi vào hẻm để tìm lối đi tắt. Điều này đôi khi gây ra xung đột trong việc sử dụng hẻm giữa một bên là phục vụ cho giao thông và một bên là phục vụ cho hoạt động thương mại như chợ, hàng quán (người dân có thể ngồi uống càphê mỗi sáng trong hẻm trong không khí nhộn nhịp). Thách thức hiện nay đối với những nhà quy hoạch và quản lý đô thị là rất lớn: làm thế nào để vừa hiện đại hoá hẻm vừa giữ được sự đa dạng và phong phú về văn hoá – xã hội của nó. (Theo SGTT)
Mở quán cà phê trên chung cư, quảng bá bằng kênh… truyền miệng đang trở thành xu hướng kinh doanh khá thú vị ở Sài Gòn. Quán cà phê ở Sài Gòn mọc như nấm, không tránh khỏi cạnh tranh. Tuy nhiên những quán “không đụng hàng” như vậy lại có một lượng khách hàng riêng. Ai đã chịu “gu” của quán rồi chắc chắn sẽ còn quay lại.
Chung cư được trang trí lại vẫn có thể trở thành nơi “trú ẩn” lý tưởng
Quán cà phê trên chung cư đầu tiên ở Sài Gòn có lẽ là “Cửa sổ mặt trời” (La Fenêtre Soleil). Hơn 10 năm trước, anh Takayuki, chuyên gia thiết kế túi xách người Nhật và một người bạn Việt Nam phải vất vả hàng tháng trời chạy khắp khu trung tâm Sài Gòn với ý định tìm mặt bằng mở quán cà phê. Khi đã “chồn chân mỏi gối”, họ được giới thiệu đến một khu chung cư nằm ở góc đường Lê Thánh Tôn – Nam Kỳ Khởi Nghĩa (quận 1)…
Liều…
Takayuki và cô bạn người Việt của anh đều rất thích lối kiến trúc của căn hộ. Thấy giá rẻ, dù có phần e ngại việc mở quán trên chung cư sẽ khó kinh doanh nhưng họ vẫn quyết định thuê. Takayuki đích thân thiết kế, trang trí và sưu tầm các đồ vật bài trí cho quán.
“Cửa sổ mặt trời” ra đời với thiết kế tận dụng tối đa ưu thế của các cửa sổ lớn có sẵn. Không gian đẹp kết hợp với các đồ vật cổ, pha trộn phong cách Á, Âu khiến cho quán ngày càng nổi tiếng qua kênh… truyền miệng. Khách hàng tìm đến Cửa sổ mặt trời phải gửi xe bên Thư viện Tổng hợp, phải leo lên một cầu thang chung cư xoàng xĩnh, rồi mới đột ngột rẽ vào cánh cửa kính lớn, mở ra một không gian rộng, thoáng, sạch sẽ, mát mẻ và êm đềm. Sự bất ngờ, ngồ ngộ ấy làm khách thích thú bỏ qua những bất tiện trước đó.
Thời kỳ đầu, Cửa sổ mặt trời còn “nằm chễm chệ” cả 4 trang trên tạp chí Kiến trúc, Nhà Đẹp và được rất nhiều tạp chí hướng dẫn du lịch trong, ngoài nước giới thiệu như là một điểm đến thú vị ở Sài Gòn. Những chiếc bàn cổ, bộ sofa rộng rãi, chiếc giường xưa treo mùng vắt vẻo… phối trộn lẫn nhau trong một không gian đậm tính nghệ sĩ đã làm hài lòng những người ưa thích sự riêng tư, độc đáo.
Chủ quán Cửa sổ mặt trời, dù không tiết lộ giá thuê mặt bằng là bao nhiêu, nhưng “bật mí”: thuê trên lầu rẻ được một nửa so với tầng trệt.
Gần đây, Cửa sổ mặt trời đã chuyển sang một khu chung cư khác trên đường Lý Tự Trọng, quận 1. Quán vẫn duy trì lượng khách cũ và thu hút khách mới. Đến bây giờ chủ quán mới tự tin kết luận: “Mở quán ở đâu cũng được, miễn là có ý tưởng tốt”.
Tương tự như thế, Hà Thanh Phúc, chàng cử nhân Ngoại thương thế hệ 8x cũng “liều hết cỡ” khi chọn cho “Vừng ơi, mở ra” một địa điểm tại tầng một của chung cư trên đường Ngô Thời Nhiệm (quận 3). Ngay mặt tiền, phía dưới quán là tiệm rửa xe. Khách phải đi thẳng vào tiệm rồi… “lần mò” qua một cầu thang nhỏ để lên quán. Thanh Phúc kể: lần đầu nhìn thấy căn hộ đã cảm thấy thích và quyết thuê bằng được. Quán có diện tích 80m2, giá thuê trên 20 triệu đồng/tháng. Khai trương ngày 14/5/2010, đến nay “Vừng ơi mở ra” đã có thể tự tin với lượng khách của mình, mặc dù chủ quán thừa nhận: “Hai tháng đầu tôi bị strees vì quán không có khách”.
Tiếp nối dòng cà phê chung cư, cà phê Things nằm tại tầng một, chung cư 14 Tôn Thất Đạm (quận 1) khai trương ngày 13/9/2010. Tuy nhiên, chị Tạ Thùy Minh, chủ quán, làm trong ngành truyền thông cho biết, chị mở quán không phải vì mục đích kinh doanh mà chủ yếu là do thích kiến trúc cũ kỹ của khu chung cư. Không gian, kiểu bài trí của quán giống như trong một gia đình, các đồ vật đều do người quen, bạn bè tặng. Phía dưới chung cư không hề có bảng hiệu hay chỉ dẫn. Khi lên lầu khách có thể … lạc nếu không tinh mắt nhìn thấy cái bảng hiệu nhỏ xíu ghi chữ “Things” treo trước cửa phòng.
… có lý
Hiện nay tại Sài Gòn có khoảng hơn chục quán cà phê trên chung cư, cao ốc. Dạo một vòng các quán như L’Usine (Đồng Khởi), L’appartement (Pasteur), The Loft (Nguyễn Công Trứ), Casbar (Nguyễn Du)… cho thấy, các khu chung cư cũ tại khu vực quận 1 chính là địa chỉ vàng cho các quán kiểu này. Mỗi quán tuy có kiểu thiết kế theo “gu” riêng của chủ quán nhưng đều có chung một đặc điểm là không gian nhỏ, nằm ở vị trí không dễ tìm.
Chỗ gửi xe bất tiện nhưng xem ra là chuyện nhỏ. Bất lợi lớn nhất đối với một địa điểm kinh doanh là vị trí khuất. Tuy vậy, nhà kinh doanh đã biết chuyển bại thành thắng: thu hút khách bằng địa điểm gợi tò mò. Anh Phúc, chủ nhân của “Vừng ơi mở ra”, cho biết: “Quán nằm trên lầu nên gợi sự tò mò cho khách hàng. Gu của khách Sài Gòn là quán càng khó kiếm càng thích tìm cho ra. Nếu có cơ hội tôi sẽ mở thêm quán nữa”.
Chị Hoàng Ngọc Thi, nhân viên văn phòng tại quận 1, khách hàng thường xuyên của các quán trên lầu cho biết: “Đây là nơi chốn bí mật của riêng mình với không gian đẹp và cảm giác lơ lửng”.
Còn chị Nguyễn Thị Châu Giang, nhân viên xuất nhập khẩu tại quận 3 chia sẻ: “Chọn một góc riêng, ngồi nhâm nhi thức uống, thả hồn xuống dòng xe cộ bên dưới giúp tôi xả strees hiệu quả. Không gian yên tĩnh, tầm nhìn đẹp là ưu điểm khiến tôi phải leo lầu”. Anh Trần Quang Tùng ở quận 11 ngắn gọn: “Tôi thích không gian hoài cổ của quán”.
Với bạn trẻ hệ 9x như Huỳnh Thế Phong thì: “Đi các quán trên lầu như vầy mới sành điệu”.
Quán cà phê ở Sài Gòn mọc như nấm, không tránh khỏi cạnh tranh. Tuy nhiên những quán “không đụng hàng” như vậy lại có một lượng khách hàng riêng. Ai đã chịu “gu” của quán rồi chắc chắn sẽ còn quay lại.
Quán nằm trên lầu gợi tò mò cho khách hàng. Quán càng khó kiếm càng thích tìm cho ra
Tất nhiên, sự tò mò cho khách hàng thôi chưa đủ. “Cửa sổ mặt trời” sở hữu các món ăn tự chế theo phong cách ẩm thực Nhật – Âu, tối thứ năm hàng tuần có nhảy salsa. Còn Casbar thu hút những người thích khung cảnh Sài Gòn về đêm với Nhà thờ Đức Bà, thích không gian mang hơi hướng Trung Đông. Tương tự như thế, “Vừng ơi, mở ra” khẳng định thế mạnh về nhạc sống. Chủ quán rất chịu khó thuê ca sĩ phòng trà hát mộc hàng đêm. Khách đến Things thì có cảm giác thân thuộc khi bắt gặp món đồ cũ mà mình đã tặng cho quán và có thể tìm một góc nào đó ngủ, nghỉ như ở nhà.
Một chủ chuỗi các quán cà phê ở Sài Gòn sân vườn cho rằng, thời giá đất đắt đỏ, thuê mặt bằng trở thành gánh nặng mà các chủ đầu tư đều ngán. Hơn nữa, chỉ khi có thể thuê từ 5 năm trở lên thì chủ mới dám đầu tư mạnh để sửa chữa, trang trí. Cho nên mặt bằng nhỏ ở chung cư, nếu biết làm cho có nét độc đáo riêng, có sức “cám dỗ” khách hàng, thì địa điểm “xấu” cũng trở thành “đắc địa”.
Nhưng muốn vậy, người chủ phải biết rất rõ mình bán cái gì, cho đối tượng nào. Bắt chước hay chạy theo những quán này, quán nọ thì chẳng bao giờ có thể… sống thọ.
Có lẽ, điều này luôn đúng, không riêng gì cho kinh doanh ẩm thực!?
UBND TP.HCM vừa thông qua chủ trương phát triển loại hình buýt trên sông.
Đại diện chủ đề án là Công ty TNHH Thường Nhật cho biết, ở nhiều thành phố trên thế giới như Bangkok (Thái Lan), Paris (Pháp), London (Anh)… đã triển khai mô hình buýt trên sông (Daily Express) và hiện rất thành công trong việc giải quyết vấn đề giao thông công cộng tại địa phương.
Buýt trên sông Sài Gòn – Ảnh do Công ty TNHH Thường Nhật cung cấp
Hiện nay, ngoài lợi thế cư dân chật kín dọc hai bờ các tuyến sông như: Sài Gòn, Vàm Thuật, kênh Tàu Hủ – Bến Nghé, kênh Đôi – Tẻ… Chính quyền TP cũng có chủ trương ủng hộ xây dựng các bến bãi đưa đón khách, làm đường dẫn vào bến.
Ông Nguyễn Kim Toản, Giám đốc Công ty TNHH Thường Nhật cho biết, giai đoạn 1 (dự kiến năm 2011) sẽ triển khai 2 lộ trình, mỗi lộ trình có khoảng 10 bến tàu đón khách, thời gian di chuyển 30 phút/chuyến, giá vé dự kiến 15.000 đồng/người, sử dụng tàu từ 40, 60 đến 80 khách. Lộ trình 1 có chiều dài khoảng 11 km từ Linh Đông (Thủ Đức) về bến Bạch Đằng (Q.1), ghé đón khách tại các bến Hiệp Bình Phước, Thanh Đa, Tầm Vu, Thảo Điền, Tân Cảng, Trần Não, Nguyễn Hữu Cảnh. Lộ trình 2 bắt đầu từ bến trung tâm ở đường Tôn Đức Thắng (Q.1) rồi đến các điểm: cầu đi bộ gần cầu Calmette – gần cầu Chữ Y (P.4, Q.5) – gần chợ Hòa Bình (P.5, Q.5) – gần cầu Chà Và (P.10, Q.5) – bến gần đường Mai Xuân Thưởng (P.1, Q.6) – cách cầu rạch Lò Gốm 300m (P.7, Q.6). Tiếp theo đó, giai đoạn 2 bắt đầu từ An Lộc (Q.12) theo sông Vàm Thuật về Bình Thạnh – Q.1, rồi từ Q.1 đi Phú Mỹ Hưng (Q.7) – kết nối xuống xã Phú Xuân (H.Nhà Bè). Các tuyến buýt trên sông tại TP.HCM có thể kết nối với các bến tại Bình Dương, Vũng Tàu, Long An…
Theo đánh giá của Khu đường sông TP.HCM, ưu điểm của loại hình buýt trên sông tại TP là mặt sông thông thoáng, thời gian di chuyển nhanh, có nhiều nhánh tỏa đi các hướng. Tuy nhiên, khó khăn bước đầu đối với mô hình vận tải này là thói quen sử dụng phương tiện cá nhân của đa số người dân khó thay đổi trong một thời gian ngắn.
Ông Trần Thế Kỷ, Phó giám đốc Sở GTVT TP.HCM nhận xét: “Tôi thấy Bangkok (Thái Lan) áp dụng mô hình này khá thành công. Ở đó, trên dòng sông Chao Phraya, sáng sớm tàu chở công nhân đi làm việc, sau đó khoảng 8 – 9 giờ tàu chở du khách du ngoạn trên sông, chiều lại chở công nhân đi làm về. Ban đêm thì các tàu phục vụ nhà hàng đi trên sông”.
Ông Kỷ cho biết, trong 2 – 3 năm tới, khi cảng Sài Gòn, Nhà máy Ba Son được di dời xong; cảng Khánh Hội, Nhà Rồng sẽ được cải tạo thành cảng du lịch khang trang, đại lộ Đông Tây hoàn thành… diện mạo khu vực này sẽ thay đổi. Vì vậy, việc đầu tư các tuyến buýt trên sông là rất cần thiết.
Đi ngang bến Bạch Đằng, đường Tôn Đức Thắng, quận 1 vào ban đêm thấy những con tàu nhà hàng, còn được gọi là nhà hàng nổi trên sông Sài Gòn dập dềnh ánh sáng. Và không ít sinh viên học sinh, công nhân, người thu nhập thấp “mơ” được một lần lên đó dạo quanh sông. Nay điều đó đã thành hiện thực.
Bắt đầu từ tháng 3 năm nay, những nhà hàng di động này sẽ trở thành phương tiện phục vụ khách du lịch trên sông vào ban ngày.
Một trong những nhà hàng nổi đậu ở bến sông Sài Gòn là tàu Bến Nghé thuộc nhà hàng ba sao, có ba tầng với sức chứa 1.000 khách. Mới đây, tàu Bến Nghé phối hợp với công ty dã ngoại Lửa Việt tổ chức chương trình “Một thoáng Sài Gòn”, đặc biệt vào các buổi sáng dành cho đối tượng chính là học sinh, sinh viên và công nhân. Với giá vé chỉ 20.000 đồng/ một người, đã bao gồm phí bảo hiểm và mỗi người một chai nước suối. Tàu sẽ đưa khách tham quan theo cung đường từ bến Bạch Đằng đến cảng Sài Gòn, khu chế xuất Tân Thuận qua Nhà Bè rồi vòng về bến.

Khởi hành vào khoảng 8 giờ sáng và mỗi chuyến đi kéo dài khoảng 3 tiếng, không cập bến giữa chừng. Chọn thời gian cho tàu đi vào buổi sáng là thời điểm mà theo những người tổ chức tour: “Khách sẽ có dịp ngắm cảnh hai bên sông Sài Gòn, biết được sinh hoạt ven sông thành phố mỗi ngày, chứng kiến cảng hàng hoá nhộn nhịp với những tàu hàng xuất nhập khẩu từ sông Sài Gòn ra biển đi các nước…”
Hướng đến đối tượng học sinh, công nhân nhưng dịch vụ này luôn mở rộng cho mọi người. Ngoài một chai nước suối đã có trong giá vé, nếu có nhu cầu ăn uống thêm thì bộ phận nhà hàng trên thuyền vẫn luôn sẵn sàng đáp ứng. Thực đơn được chia theo khẩu phần hoặc theo sở thích riêng tuỳ nhu cầu của khách. Giá thức uống từ 10.000 – 15.000 đồng, thức ăn từ 20.0000 – 25.000 đồng/món.
Sức chứa đến 1.000 người, nhưng đoàn chỉ cần có chừng 500 người, tàu cũng sẽ phục vụ. Ông Nguyễn Văn Mỹ, giám đốc Lửa Việt cho biết: “Đây là một trong những chương trình tour khai thác mở rộng: tour – tuyến du lịch đường sông”. Trước đây các thuyền đã hoạt động nhưng chủ yếu dành cho du khách nước ngoài và khách ẩm thực vào ban đêm, vừa ăn vừa hóng mát. “Bây giờ tàu chạy ban ngày, tận dụng thêm công suất và phục vụ thêm nhu cầu tham quan loại hình khác với buổi tối”.
Dịch vụ du lịch này thích hợp cho các trường học, doanh nghiệp sản xuất có đông công nhân tổ chức những buổi dã ngoại ngắn, cùng nhau thư giãn vui chơi. Với chi phí dễ chấp nhận và nội dung có tính chất “bình cũ rượu mới”, những người tổ chức tour này lạc quan và hy vọng sẽ đón nhận 500.000 khách trong năm nay.
Liên hệ: Công ty dã ngoại Lửa Việt, số 677 Trần Hưng Đạo, phường 1, quận 5.
Các Ngọc (SGTT)
Khu đô thị Phú Mỹ Hưng là một khu đô thị mới ở Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích 6 km². Khu đô thị nằm dọc theo Đại lộ Nguyễn Văn Linh, là một phần của khu đô thị Nam Sài Gòn có diện tích lớn hơn nhiều. Khu đô thị này hiện nay được xem là kiểu mẫu đô thị mới tốt nhất tại Việt Nam[cần dẫn nguồn] và là nơi tập trung sinh sống của những người có thu nhập cao. Khu đô thị này do công ty liên doanh Phú Mỹ Hưng do tập đoàn Đinh Thiện Lý, Đài Loan đầu tư, thiết kế của một công ty tư vấn Hoa Kỳ.
Đô thị PMH xây dựng theo quy hoạch tổng thể ngay từ đầu sẽ trở thành T.T thương mại tài chính quốc tế hấp dẫn nhất Đông Nam Á. Trên diện tích 2.600ha tọa lạc song song với TP.HCM về phía Nam, Cty LD PMH được phép khai thác phát triển khu đất trong phạm vi công trình đô thị mới để xây dựng một đô thị kiểu mẫu tại Đông Nam Á.
Quy hoạch tổng thể đô thị mới do công ty Skidmore, Owings & Merrill (Mỹ) thiết kế đã được Thủ tướng phê duyệt vào ngày 8/12/1994 và vào ngày 3/3/1995, Chính Phủ Việt nam đã chính thức chấp thuận việc thành lập Ban Quản Lý Khu Nam với cơ chế đầu tư Một Cửa cho Đô Thị PMH. Đô thị Phú Mỹ Hưng được phát triển trong cơ cấu bảo vệ môi trường. Nền Tảng Cho Chiến Lược Phát Triển Một Thành Phố Hướng Ra Biển Đông.
Là bước đầu của chương trình mở rộng TP.HCM về hướng Nam, tiến ra biển theo xu hướng các đô thị lớn trên thế giới, việc phát triển đô thị PMH sẽ là một yếu tố quan trọng trong kế hoạch phát triển toàn diện khu tam giác kinh tế trọng điểm miền Nam gồm TP.HCM – Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu, để hình thành thêm một trung tâm đô thị có đầy đủ chức năng về tài chính, thương mại, dịch vụ, cư trú, văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật cao và du lịch quốc tế ở Việt Nam. Một đô thị có đầy đủ hạ tầng cần thiết, chức năng hoàn chỉnh với một cộng đồng dân cư hiện đại, … sẽ đáp ứng nhu cầu khi điều kiện kinh tế ngày càng phát triển và khi lương dân số tại TP.HCM có thể gia tăng đến 10 triệu người trong thập kỷ tới.
Ba chức năng của Công ty TNHH Liên doanh Phú Mỹ Hưng:
1) Xây dựng đại lộ Nguyễn Văn Linh dài 17,8km, lộ giới 120m có 10 làn xe (6 làn xe cao tốc và 4 làn xe hỗn hợp, riêng đoạn đi ngang qua Khu A – Trung tâm đô thị PMH – có 14 làn xe). Chính giữa đại lộ là phần đất công viên rộng 18 – 36m dự phòng để phát triển dự án metro trong tương lai. Đại lộ này được xây dựng hoàn toàn mới băng qua vùng đất đầm lầy của huyện Nhà Bè (nay là quận 7), quận 8 và huyện Bình Chánh. Đây là tuyến đường giao thông huyết mạch trung chuyển hàng hoá từ TP.HCM đến các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, mở ra thời cơ mới trong việc phát triển thành phố theo quy hoạch đã được chính phủ phê duyệt, là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy quá trình đô thị hóa, chuyển đổi một bộ phận dân cư nông nghiệp trở thành dân cư thành thị và cải tạo vùng đất nông nghiệp phèn mặn trở thành một đô thị hiện đại cho thế kỷ 21, từ đó làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế toàn khu Nam và TP.HCM. Cầu Phú Mỹ đã thông xe nối liền quận 7 với quận 2, từ đó liên thông các tỉnh miền Đông với miền Tây nam bộ. Công trình xây dựng đại lộ Nguyễn Văn Linh được chia làm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 thông xe 2 làn vào đầu năm 1998. Giai đoạn 2 thông xe từ 4 – 6 làn vào năm 2003. Giai đoạn 3 thông xe đủ 10 làn theo đúng thiết kế, đúng tiến độ vào ngày 30/12/2007. Nhân dịp này, Công ty TNHH LD Phú Mỹ Hưng đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động Hạng I.
2) Xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng của 150ha đất công trình công cộng để bàn giao cho UBND TP.HCM quản lý, kinh doanh, xây dựng tiện ích công cộng.
3) Xây dựng 5 cụm đô thị hiện đại theo quy hoạch tổng thể A, B, C, D, E dọc theo đại lộ Nguyễn Văn Linh, nhằm thực hiện định hướng phát triển TP.HCM hướng ra biển Đông theo chủ trương của Chính phủ Việt Nam nói chung và TP.HC
Nhà hát lớn Thành phố Hồ Chí Minh là một nhà hát nằm trên đường Đồng Khởi, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Nằm ở một vị trí thuận lợi tại trung tâm thành phố, nhà hát được xem là nhà hát trung tâm, đa năng chuyên tổ chức biểu diễn sân khấu nghệ thuật đồng thời cũng được sử dụng để tổ chức một số sự kiện lớn. Đây cũng là nhà hát thuộc loại lâu đời theo kiến trúc Đế Quốc và được xem như một địa điểm du lịch của thành phố này.
Tọa lạc trên con đường Ðồng Khởi – trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, bên cạnh là hai khách sạn lớn Caravelle và Continental. Nhà hát thành phố Hồ Chí Minh có kiến trúc cổ kính, uy nghi với 1 tầng trệt, hai tầng lầu, 1800 ghế, không khí thoáng, hệ thống âm thanh ánh sáng hiện đại. Nhà hát thành phố Hồ Chí Minh là nơi tổ chức biểu diễn sân khấu chuyên nghiệp như: biểu diễn kịch nói, cải lương, ca nhạc, múa Balê, dân tộc, Ôpêra cho tất cả các đoàn nghệ thuật trong và ngoài nước.Ngoài ra, những đêm trình diễn thời trang đã thu hút bao khách thanh lịch ở Sài Gòn và nước ngoài, đặc biệt những nhà trình diễn thời trang quốc tế cũng chọn nhà hát Thành Phố làm nơi phô diễn những kiểu quần áo đặc sắc đang được thế giới ưa chuộng. Tại đây có thể tổ chức những buổi mít tinh, kỷ niệm những ngày lễ lớn, các hội thảo chuyên đề…
Ngay từ năm 1863 đã có những đoàn hát từ Pháp sang trình diễn cho quân viễn chinh Pháp xem. Lúc đầu họ trình diễn tại ngôi nhà bằng gỗ của vị Ðô Ðốc tại Công trường Ðồng Hồ (Place de L’Horloge) ở góc Nguyễn Du-Ðồng Khởi hiện nay. Sau đó một nhà hát tạm được lập ở vị trí khách sạn Caravelle ngày nay. Nhà hát lớn (Nhà hát Thành phố ngày nay) được khởi công xây dựng từ năm 1898. Ðầu năm 1900, nhà hát được khánh thành trọng thể. Mặt tiền của nhà hát được trang trí bằng nhiều tượng và tượng đắp nổi (như ở tòa nhà Ủy ban nhân dân thành phố) theo kiểu cách kiến trúc thời bấy giờ.
Giữa chiến tranh thế giới lần thứ I và chiến tranh thế giới lần thứ II, để đưa các đoàn hát từ Pháp sang trình diễn, thành phố phải trợ cấp nhiều. Vì thế nhiều người đã phản đối và có ý muốn biến nhà hát thành nhà hòa nhạc (salle de concert). Mặt tiền nhà hát bị đánh giá là quà rườm rà. Dự án sửa đổi đã được đưa ra vào năm 1943, sau đó mặt tiền nhà hát được sửa chữa lại như ta thấy ngày nay.
Sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương, do hoàn cảnh chiến tranh, nhà hát không được tu bổ nhiều. Năm 1954, nơi đây được sử dụng làm nơi ở tạm trú cho các thường dân Pháp từ miền Bắc di cư vào Nam theo Hiệp định Genève năm 1954. Năm 1955, nhà hát được tu bổ cải tạo nhưng lại được sử dụng với chức năng tòa Trụ sở Quốc hội (sau gọi là Hạ nghị viện) của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Sau năm 1975, Nhà hát được trả lại chức năng ban đầu là tổ chức biểu diện nghệ thuật. Năm 1998, nhân dịp 300 năm khai sinh Thành phố Sài Gòn, chính quyền thành phố đã cho tu bổ lớn với phương châm bảo tồn phong cách kiến trúc ban đầu, với một số trang trí, điêu khắc nổi ở mặt tiền nhà hát như tượng nữ thần nghệ thuật, các dây hoa… được phục chế.
Hội đồng nhân dân thành phố đã phê chuẩn một dự án tân trang nhà hát vào tháng 11 năm 2007, kinh phí trù liệu là 1,6 tỉ đồng. Trong chương trình này, những bộ phận kiến trúc trùng tu dược liệt kê như sau:
  • Mái ngói với những vật liệu chế tạo đúng theo khuôn mẫu của thời đó (1900).
  • Thay ghế ngồi bằng ghế đệm (giảm số ghế từ 559 xuống 500 chỗ ngồi).
  • Thay gạch lát nền.
  • Trùng tu các tượng phía trong nhà hát.
  • Trùng tu các điêu khắc nổi trên tường và các tượng theo đúng mẫu ban đầu.
Dự án hoàn tất cuối năm 2009. Công ty tổ chức các buổi trình diễn văn nghệ đã nhận 160.000 € trợ cấp của thành phố Lyon (Pháp) để trang bị hệ thống chiếu sáng mỹ thuật về đêm.

Kiến trúc

Nhà hát lớn Sài Gòn là một đối trọng về mặt kiến trúc với Nhà hát lớn Hà Nội (cất năm 1911, kiến trúc theo mẫu Opéra Garnier tại Paris, 900 chỗ ngồi, kiến trúc sư Broger et Harloy). Nhà hát Sài Gòn giữ riêng nét đặc thù có một không hai. Tác giả của tòa kiến trúc này là các kiến trúc sư Félix Olivier, Ernest Guichard và Eugène Ferret xây dựng năm 1900 theo lối kiến trúc “flamboyant” của thời Đệ tam cộng hòa Pháp[2]. Cửa mặt tiền chịu ảnh hưởng nghệ thuật khá rõ nét của Petit Palais cất cùng năm tại Pháp. Thiết kế bên trong tân tiến với đầy đủ thiết bị cho âm thanh và ánh sáng. Ngoài tầng trệt còn 2 tầng lầu tổng cộng 1800 chỗ ngồi. Toàn bộ các mẫu trang trí, phù điêu mặt tiền và nội thất đều được một họa sĩ tên tuổi ở Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát ở Pháp cuối thế kỷ 19 và gửi từ Pháp qua.
Tuy vậy, về phần trang trí ở mặt tiền nhà hát cũng có nhiều lời chỉ trích. Theo phong cách Đế Quốc (sau được trang trí thêm theo phong cách Beaux Arts, rồi giản tiện hóa kiểu Art Deco), mặt tiền nhà hát được trang trí nhiều phù điêu và tượng đắp nổi (giống như Tòa Thị chính), nên bị chỉ trích là khá rườm rà và rối rắm. Vì vậy vào năm 1943, một số chi tiết trang trí này đã bị dỡ bỏ nhằm trẻ trung hóa phong cách kiến trúc. Vào năm 1998, nhân dịp kỷ niêm 300 thành lập Thành phố HCM, chính quyền đương thời phục hồi chức năng củ là nhà hát thành phố củng như đã cho phục hồi một số trang trí như tượng 2 nữ thần nghệ thuật, các dây hoa, hai cây đèn… trong đợt cải tạo và nâng cấp nhà hát. Tổng kinh phí trùng tu phục chế vào khoảng 25 tỉ đồng thời giá bấy giờ.
Trụ sở Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là một tòa nhà được xây dựng từ năm 1898 đến 1909 do kiến trúc sư Gardès thiết kế mô phỏng theo kiểu những lầu chuông ở miền Bắc nước Pháp. Thời Pháp thuộc, tòa nhà này có tên là Dinh Xã Tây, trước năm 1975 gọi là Tòa Đô chánh, hiện nay nó là nơi làm việc của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nằm ngay ở đầu đại lộ Nguyễn Huệ, Quận 1. Đây có thể coi là một trong những công trình kiến trúc đẹp nhất của thành phố này.
Còn gọi là dinh Xã Tây, dinh Ðốc Lý và sau này là tòa Ðô Chính (tòa Ðô Sảnh) là một trong những kiến trúc to lớn và cổ của thành phố Sài Gòn. Năm 1862 sau khi chiếm được một số tỉnh của Nam Kỳ, người Pháp tổ chức một hội đồng thị xã để cai trị (Conseil minicipal). Nhưng hội đồng này chưa có trụ sở chính thức, phải thuê nhà của một người khách trú tên là Ðoàn Tại để làm trụ sở tạm thời (1868) ở Rue.aux fleurs hiện giờ ở sau trụ sở hải quan thành phố) nằm giữa đại lộ Nguyễn Huệ (Charner) và Hàm Nghi (De la Some). Ngôi nhà này đồng thời còn dùng làm phòng Thương mại và Chứng khoán. Mãi đến năm 1871, chính quyến Pháp mới bắt đầu nghĩ đến việc xây dựng một nhà làm việc chính thức cho Hội đồng thị xã. Khu kinh lấp (tức đường Nguyễn Huệ hiện nay) đã được lưu ý đầu tiên, nhưng vẫn còn e ngại về vấn đề đổ móng xây nền vì nơi đây là vùng đất bùn. Dự án xây cất được đặt thành một cuộc thi vẽ họa đồ và người được giải là kiến trúc sư Codry. Nhưng vào năm sau bản đồ án này bị thay đổi không rõ lý do và một kiến trúc sư khác được mời đến thiết kế. Ðó là kiến trúc sư Métayer.
Năm 1874 vấn đề xây cất không được nhắc lại. Mãi đến năm năm sau, việc xây cất được đề cập đến, nhưhg chỉ là nhắc nhở mà không thực hiện. Ðến năm 1880 viên thị trưởng Balancsubé cố gắng phục hồi lại dự án cũ, nhưng vẫn không thành công. Bước sang năm 1888 bản đồ án kiến trúc ban đầu bị sửa đổi hoàn toàn. Năm 1893 vấn đề xây cất lại được nêu ra tại Hội đồng thị xã Sài Gòn lại bắt đầu họp bàn về địa điểm. Cuối cùng năm 1896 một cuộc bàn cãi về địa điểm được triệu tập một lần nữa và một cuộc thi vẽ họa đồ thứ hai được tổ chức. Nguyên nhân cản trở việc xây cất tiến hành trong các năm trước đó chính là vấn đề địa điểm. Tuy nhiên, trong thời gian từ 1898 đến 1899 tòa thị sảnh được khởi công xây cất ngay trên vùng đất đã chọn trước đó. Kiến trúc sư Gardès chịu trách nhiệm xây dựng đồ án và họa sĩ Ruffier chịu trách nhiệm trang trí. Nhưng do nhiều lý do không thuận lợi, do sự bất đồng ý kiến giữa họa sĩ Ruffier và các nghị viện Việt Nam trong hội đồng thị xã.
Trước sự bất đồng giữa các nghị viện và họa sĩ Ruffier, thị trưởng Cuniac có ý hòa giải bằng cách gửi một tấm ảnh về cái trung đoạn kỳ dị của tòa nhà về Pháp cho Ruffier và đề nghị nếu có thể tìm đề tài khác thay thế. Nhưng vì thay đổi quá tốn kém, nên viên Thống đốc Rodier từ chối những chi phí mới. Sự bàn cãi giằng co kéo dài mãi đến năm 1907, sau đó hợp đồng của Fuffier bị bãi bỏ và một họa sĩ khác là Bonnet nhận lãnh hoàn toàn mọi công việc trang trí. Ðến năm 1908 tòa Ðô sảnh được hoàn thành và vụ Ruffier được đưa ra trước Tham chính viện vì Ruffier đã nhận trước môt khoản kinh phí là 2/3 trong tổng số kinh phí để thực hiện công việc. Mãi đến năm 1914 vụ kiện này mới được giải quyết, Ruffier buộc phải hoàn lại toàn bộ số tiền đã lĩnh. Tòa nhà được khánh thành vào năm 1909 với sự tham dự của viên toàn quyền Ðông Dương nhân kỷ niệm 50 năm duy trì chánh quyền thực dân Pháp tại Sài Gòn (1859-1909).
Với một vóc dáng nhại theo kiểu lầu chuông đúc cao có nóc nhọn thường lấy ở vùng miền Bắc nước Pháp, về sau xây thêm lầu chuông ở hai bên, cách kiến trúc kỳ dị này đã có một thời là đề tài cho các ký giả ngoại quốc chê cưới là rườm rà, là ăn cắp kiểu thời kỳ Phục Hưng ở Ý, lai căng Pháp. Chính giữa mặt tiền là một kiểu trang trí đắp nổi có hình dáng một người phụ nữ mạnh khỏe tiêu biểu cho nước Pháp, một hình đứa bé đang chế ngự thú dữ, hai bức đắp nổi hai bên tiêu biểu cho nước Pháp cầm gương đi chinh phục thuộc địa. Phía trước dinh là một bãi cỏ rộng có ghế đá và bồn kèn-nơi ban nhạc của hải quân Pháp trình diễn cho công chúng xem. Pháp xem Nam Kỳ là thuộc địa của mình, và Sài Gòn là khu vực của người Pháp theo quy chế một xã ở bên Pháp với một viên xã trưởng. Ủy ban thị xã (đô thành) do một xã trưởng Tây đứng đầu, nên khi xây dinh này xong, người Sài Gòn gọi là dinh Xã Tây. Thời kỳ thuộc chính quyền Sài Gòn, một chức Ðô trưởng được đặt ra để trông coi thành phố Sài Gòn-chợ Lớn mà trụ sở đặt tại đây, nên dinh này được đổi tên là tòa Ðô Chính. Sau ngày giải phóng 30-4-1975 tòa nhà này được dùng làm trụ sở Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh,
Là một trong những trụ sở của chính quyền, tòa nhà này đã chứng kiến nhiều sự kiện, biến cố lịch sử. Trong cao trào đấu tranh của mặt trận Dân chủ 1936-1939, ngày 14-6-1937 đồng bào thất nghiệp ở Sài Gòn biểu tình trước dinh Xã Tây đòi công ăn việc làm. Năm 1942 phong trào sinh viên đã có tổ chức một cuộc triển lãm lịch sử dân tộc tại tòa Xã Tây để cổ súy lòng yêu nước của thanh niên thành phố.
Trong những ngày tổng khởi nghĩa và Cách mạng tháng Tám, không khí trước dinh Xã Tây cũng hết sức sôi động. Chập tối ngày 24-8-1945 tại bùng binh trước dinh Xã Tây, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát đã chỉ đạo một toán lính theo cách mạng dựng lên môt kỳ đài sơn đỏ cao 10m mang danh sách các vị trong Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ. Sáng 25-8-1945 lá cờ đỏ sao vàng kiêu hãnh tung bay trên dinh Xã Tây, đẩy lùi cả một thế kỷ nô lệ vào dĩ vãng. Quảng trường trước dinh cũng như đường Bonard (nay là đường Lê Lợi) thẳng đến chợ Bến Thành tràn ngập một rừng người, cờ hoa và biểu ngữ hoan hô ủy ban kháng chiến ra mắt đồng bào.
Nhưng không lâu, các khó khăn nghiêm trọng đã bắt đầu đe dọa chính quyền cách mạng còn non trẻ. Ngày 10-9-1945, Ủy ban đồng minh sung công dinh hành chánh của Ủy ban kháng chiến (Viện bảo tàng Cách Mạng ngày nay) và buộc Ủy ban Nam Bộ phải dời về dinh Ðốc Lý. Mặc dù Ủy ban kêu gọi đồng bào bình tĩnh, ngày nào đồng bào thành phố cũng kéo đến đông đảo tại bùng binh trước dinh Ðốc Lý theo dõi tình hình. Chỉ vài ngày sau, lệnh tản cư khỏi thành phố được ban hành. Thế rồi cuộc Nam Bộ kháng chiến xảy ra đêm 22 rạng 23-9-1945, dinh Ðốc Lý bị thực dân chiếm đóng. Nhiều cán bộ và đồng bào yêu nước bị Pháp bắt đem về đây tra tấn dã man.
Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, dinh Ðốc Lý là một trong những địa điểm bị quân và dân Việt Nam tấn công. Ðặc biệt giữa lúc thực dân Pháp ráo riết cho một số người Việt mất gốc đưa ra thuyết phân kỳ đòi lập Nam Kỳ quốc, lúc 16 giờ 20 ngày 25-2-1946 một nhóm 70 người Pháp tiến bộ (thuộc Ðảng Xã hội Pháp và nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Sài Gòn) đã họp tại dinh Ðốc Lý, ra một quyết nghị đòi chính phủ Pháp phải thừa nhận nền độc lập của nước Việt Nam, thừa nhận chính phủ hiện thời của cụ Hồ Chí Minh do cuộc tổng tuyển cử bầu lên và đòi ngưng chiến tức khắc.
Năm 1950, khu vực trước dinh Xã Tây lại sôi động với nhiều cuộc đấu tranh mạnh mẽ của đồng bào thành phố: cuộc đấu tranh lịch sử ngày 9-1 rồi cuộc tổng bãi công bãi thị, tuần hành của nhân dân thành phố ngày 14-1-1950 trên các đường phố chính dẫn đến Bạch Ðằng rồi dồn lại trước dinh Xã Tây.
Trong những ngày toàn quốc chống Mỹ, ngày 19-3-1950, sau cuộc mít tinh lên án can thiệp Mỹ ở trường Tôn Thọ Tường, nửa triệu nhân dân thành phố đã tỏa đi chiếm lĩnh cả khu vực trung tâm thành phố từ chợ Bến Thành, dinh Ðốc Lý đến Bến Bạch Ðằng. Trước dinh Ðốc Lý, tên thiếu tá Perier hỗn xược từ trong xe thò tay ra giật cờ đỏ sao vàng của đoàn biểu tình, liền bị đồng bào chặn xe lại, đốt cháy và kết liễu đời hắn bằng những nhát giao găm phẫn nộ. Cũng trong năm này, nhiều cuộc biểu tình nhân ngày 1-5 được tổ chức trước dinh Ðốc Lý.
Trong thời gian chống Mỹ, nhiều cuộc đấu tranh của đồng bào các giới không ngừng nổ ra trước khu vực này. Liên tiếp trong những năm 1956, 1957, 1958 sau những cuộc họp liên tiếp ở từng chợ trong thành phố, hàng trăm đại biểu của chị em tiểu thương ở 50 chợ Sài Gòn-Gia Ðịnh đã họp đại hội rồi kéo đến tòa Ðô Chính đưa nhiều yêu sách dân sinh, dân chủ, chống thuế, đòi bỏ phạt, giải quyết vệ sinh ở các chợ. Ðầu năm 1963, Mỹ và chính quyền Sài Gòn gây ra những vụ đốt nhà để buộc đồng bào các khu Khánh Hội, Vĩnh Hội, Phú Thọ… vào những khu, khóm chiến lược. Hàng trăm chị em đã bồng bế con ra giữa đường vạch trần tội ác và cùng với hàng ngàn đồng bào kéo đi biểu tình, vượt qua hàng rào cảnh sát, tìm vào tòa Ðô Chính hô vang những khẩu hiệu đòi tống cổ đế quốc Mỹ về nước.
Nếu bạn ghé thăm thành phố Hồ Chí Minh, chắc chắn bạn sẽ không thể bỏ qua Bưu điện Sài Gòn bởi kiến trúc đẹp và sang trọng của nó. Cho đến ngày nay, bưu điện Sài Gòn vẫn còn được bảo quản tốt và giữ đúng chức năng bưu điện – một trong những nỗ lực đáng khen ngợi của chính quyền thành phố. Người thiết kế Bưu điện Sài Gòn là một người rất nổi tiếng – kiến trúc sư Gustave Eiffel, người đã tổ chức thiết kế tháp Eiffel, tượng nữ thần Tự do, cầu Long Biên (Hà Nội), cầu Trường Tiền (Huế).
Ngay sau khi đánh thành Gia Định, chiếm được vùng đất Sài Gòn, Pháp đã thiết lập hệ thống thông tin liên lạc. Ngày 11.11.1860, “Sở dây thép” Sài Gòn (tức Bưu điện Sài Gòn) được thành lập. Ông Phạm Văn Trung là người Việt Nam đầu tiên làm giám đốc Bưu điện An Nam tại Sài Gòn. Ngày 13.1.1863, Sở dây thép Sài Gòn được chính thức khánh thành và phát hành “con cò” (người Sài Gòn xưa hay gọi con tem là con cò) đẩu tiên. Năm 1864, dân chúng Sài Gòn bắt đầu gởi thơ qua nhà “dây thép” (hệ thống bưu điện).
Năm 1886, Bưu điện Sài Gòn được xây cất lại với qui mô hiện đại thay thế cho trụ sở và khu nhà ở cũ, tòa nhà bưu điện thành phố được xây dựng lại theo đề án của kiến trúc sư người Pháp là Vilơdic.. Đến năm 1891, trụ sở mới của Bưu điện Sài Gòn được chính thức khánh thành. Trước đó, đường dây thép Sài Gòn – Qui Nhơn – Đà Nẵng – Huế – Vinh – Hà Nội dài 2000 km đã được chính thức hoàn thành (vào ngày 22.3.1888). Năm 1889 mở thêm đường liên lạc điện báo Sài Gòn – Băng Cốc để phục vụ cho giới kinh doanh thương mại. Từ ngày 1.7.1894 Sài Gòn bắt đầu sử dụng hệ thống điện thoại.
Ngày nay hệ thống bưu chính viễn thông trở nên quen thuộc với mọi người dân nhưng từ nửa đầu thế kỷ 20 trở về trước hệ thống bưu điện vẫn còn xa lạ đối với nhiều người dân Sài Gòn.
Kiến trúc bên trong toà nhà Bưu điện
Toà nhà Bưu điện Sài Gòn là một trong những công trình kiến trúc nổi tiếng của thành phố, có nhiều đặc trưng của phong cách kiến trúc châu Âu và châu Á quyện vào nhau. Tòa nhà tọa lạc bên hông Vương cung Thánh đường (Nhà thờ Ðức Bà) ở quảng trường Công Xã Paris. Nhà Bưu điện được xây dựng xong, trở thành một loại hình dịch vụ lạ và gây ấn tượng rất mạnh với dân chúng.
Vẻ đẹp độc đáo của toà nhà bưu điện thành phố càng được tôn lên vì trước mặt nó có một công trình lộng lẫy là Nhà thờ Đức Bà với tháp chuông cao vút. Từ đó đến nay, tòa nhà này luôn là trung tâm bưu điện của thành phố.
Tòa nhà nổi bật với sự bố cục cân đối của các hạng mục công trình mang tính thẩm mỹ cao. Các chi tiết cân đối, chia đều ra hai bên, đối xứng nhau qua một “trục” trung tâm. Mặt tiền có kết cấu hình khối, với vòm cung phía trên các cửa. Hệ thống cột, trụ chính, phụ, mái hiên đều có kết cấu hình khối vuông. Trên mỗi đầu trụ, cột được chạm khắc hoa văn, phù điều công phu, tỉ mỉ. Ở mặt tiền tòa nhà có hệ thống đường viền, đường chỉ là những chuỗi hoa văn chạy ngang, tạo nên vẻ đẹp, sự cân đối và làm cho tòa nhà có vẻ như không cao lắm.
Kiến trúc mái vòm rất độc đáo
Bên trong tòa nhà là hệ thống vòm cung sát cửa chính và vòm cung dài bên trong. Vòm cung lớn được chống đỡ bởi bốn trụ sắt nằm bốn góc, mỗi cột chống đỡ bốn kèo sắt tỏa ra bốn phía. Vòm cung dài được chịu lực bởi hai hàng trụ sắt hai bên. Các điểm tiếp nối giữa trụ và kèo sắt được thiết kế công phu, chạm khắc thành những chi tiết có hoa văn đẹp. Với hệ thống vòm cung này, tòa nhà trở nên cao, rộng rãi và thoáng mát, thích hợp với một nơi thường có nhiều người ra vào.
Với thiết kế độc đáo từ trong đến ngoài như vậy, tòa nhà Bưu điện Sài Gòn có thể xem là một công trình xây dựng có phong cách độc đáo về kiến trúc, màu sắc của Sài Gòn lúc bấy giờ. Trên vòm mái trong tiền sảnh của toà nhà có hai bản đồ lịch sử: “Saigon et ses environs 1892” và “Lignes télegraphiques du Sud Vietnam et du Cambodge 1936”.
Nhà thờ Ðức Bà còn gọi là nhà thờ Chánh tòa Sài gòn, một công trình kiến trúc lớn ở quảng trường công xã Pari, trung tâm thành phố, với hai tháp chuông cao 40 mét.
Ngay sau khi chiếm Sài Gòn, Pháp đã cho lập nhà thờ để làm nơi hành lễ cho tín đồ Thiên Chúa giáo trong đoàn quân viễn chinh. Ngôi nhà thờ đầu tiên được lập ở đường số 5 (nay là Ngô Ðức Kế). Ðây là một ngôi chùa của người Việt. Vì chiến cuộc, vì quân xâm lăng đến trú đóng, người Việt đã bỏ chạy và cố đạo Lefebvre đã biến ngôi chùa này thành nhà thờ.
Nhà thờ đầu tiên đó quá nhỏ nên Pháp đã lập ngôi nhà thờ thứ hai bên bờ “Kinh Lớn” (hay kinh Charner, ở vị trí sau này là Tòa án Nhân dân quận 1). Cố đạo Lefebvre đã đặt viên đá đầu tiên xây dựng ngôi nhà thờ này vào ngày 28-3-1863. Nhà thờ xây cất bằng gỗ, hoàn thành năm 1865. Nhưng khoảng 12 năm sau ngôi nhà thờ gỗ này bị hư hại nhiều vì mối mọt, các buổi lễ được tổ chức trong phòng khánh tiết của “dinh Thống Ðốc” cũ nằm ở vị trí trường sư phạm ngày nay, cho đến khi nhà thờ lớn xây xong.
Ngoài mục tiêu có chỗ thờ phượng, hành lễ cho tín đồ, việc xây dựng nhà thờ lớn cũng nằm trong mục đích phô trương Ðạo Thiên Chúa và sự vĩ đại của nền văn minh Pháp trước người dân thuộc địa.
Thống đốc Nam kỳ Duperré đã tổ chức một kỳ thi vẽ đồ án kiến trúc nhà thờ mới. Nhiều kiến trúc sư đã đưa đồ án đến tham dự, trong đó hai đồ án của Fabre và Bourard là được sự đặc biệt lưu ý. Cuối cùng đồ án của Bourard đã được chọn. Về địa điểm xây cất có 3 nơi được đề nghị:
- Trên nền trường thi cũ (nằm ở góc đường Lê Duẩn và Hai Bà Trưng tức vị trí tòa Lãnh sự Pháp ngày nay).
- Ở khu kinh lớn tức đường Nguyễn Huệ ngày nay.
- Vị trí hiện nay.
Ngày 7-10-1877 cố đạo Colombert đặt viên đá đầu tiên xây nhà thờ. Việc xây cất được giao cho Bourard trông coi. Ngày 11-4-1880 lễ ban phước và khánh thành được cố đạo Colombert tổ chức trọng thể với sự có mặt của Thống đốc Nam Kỳ Le Myre de Vilers. Hai ngày này được khắc trên các bảng cẩm thạch gắn trong hành lang (transept) của nhà thờ.
Nhà thờ đức Bà do người Pháp xây từ năm 1877, là nhà thờ Thiên chúa giáo lớn nhất và xưa nhất ở Việt Nam, mô phỏng hình ảnh nhà thờ Ðức Bà ở Paris.
Móng của nhà thờ thiết kế đặc biệt, chịu được tải trọng gấp 10 lần toàn bộ kiến trúc ngôi nhà thờ nằm bên trên. Chiều dài nhà thờ dài 93m, ngang 36m60, cao 21m. Gạch xây được chở từ Marseille đến, kiếng màu do hãng Lorin của tỉnh Chartres (Pháp) sản xuất. Và một điều rất đặc biệt là nhà thờ không có vòng rào hoặc bờ tường bao quanh như các nhà thờ quanh vùng Sài Gòn – Gia Ðịnh lúc ấy và bây giờ.
Mười bốn năm sau, năm 1894, người ta xây thêm hai nóc trên tháp chuông. Như thế chiều cao của nhà thờ lên đến 57 mét. Tháp có 6 chuông nặng tổng cộng 25.850kg lớn nhất Viễn Ðông thời đó, âm thanh phát ra là Sol, La, Si, Do, Ré, Mi. Phí tổn xây cất nhà thờ lên đến 2.500.000 francs. Vì kiến trúc theo kiểu mẫu Notre Dame de Paris, cho nên 2 gác chuông cũng cao ngang tầm nóc nhà thờ, bên trong có treo 6 quả chuông, trọng lượng 24.000 kg. Lầu chuông bên Nam (từ công viên có tượng đức Mẹ, nhìn vào là lầu chuông bên tay phải), được treo quả chuông lớn nhất và 3 quả chuông nhỏ hơn, lầu chuông bên Nữ (nằm bên trái, nhìn từ công viên vào) treo hai quả chuông nữa. Năm 1920 xây thêm hai tháp từ hai gác chuông trở lên, cao 36m, mỗi nóc có đính 1 cây thánh giá cao 3m50, ngang 2m, nặng 600kg. Tổng thể chiều cao từ mặt đất lên đỉnh thánh giá là 60m50.
Năm 1962, Tòa thánh Vatican đã cho phép làm lễ “xức dầu” nâng nhà thờ lên hàng Vương Cung Thánh Ðường (Basllique). Trên vườn hoa trước nhà thờ, năm 1903, người Pháp cho dựng tượng đồng Pigneau de Béhaine dẫn Hoàng tử Cảnh (con của Gia Long) để ca ngợi công lao của nước Pháp “bảo hộ”, “khai hóa” cho Việt Nam. Năm 1945, nền cai trị của Pháp ở Việt Nam sụp đổ, tượng này bị phá bỏ.
Năm 1959, tượng Ðức Mẹ tay nâng quả cầu tượng trưng trái đất, trên có thập tự giác được dựng lên trên nền đế cũ. Tượng cao 4,6m, nặng 5,8 tấn, bằng cẩm thạch trằng, là tác phẩm của một nghệ sĩ Ý.
Giữa hai gác chuông còn có chiếc đồng hồ hiệu R.A với 1 bộ máy nặng trên 1.000 kg, gắn trong khung sắt, chiều ngang 2m, cao 1m, đặt nằm trên bệ gạch; mặt kim đồng hồ hướng ra đường Catina (nay là đường đồng Khởi). Máy đồng hồ trông đơn giản, thô sơ nhưng chạy bền và đúng giờ, đổ chuông báo giờ rất chính xác. Ðồng hồ này chào đời từ 1877, đến nay đã được 120 tuổi.
Sau 3 năm xây dựng, nhà thờ khánh thành vào dịp lễ Phục sinh ngày 11.4.1880. Ðiều đặc biệt là toàn bộ vật liệu xây dựng từ xi măng, sắt, thép, gạch, ngói đinh ốc, và cả 6 quả chuông đều được chở từ bên Pháp sang. Hiện nay, trên bệ phía trên, bên trong cửa ra vào nhà thờ, vẫn còn hàng chữ 1877-1880 – J. Bourard (ngày khởi công, ngày khánh thành và tên vị công trình sư). Từ đó, nhà thờ Sài Gòn có tên gọi là nhà thờ Nhà nước.
Sau năm 1962, Giáo hội Việt Nam đề nghị Tòa thánh Vatican, phong tước hiệu Vương Cung Thánh đường cho nhà thờ Sài Gòn. Ðề nghị ấy được chuẩn y. Từ đó Nhà thờ Sài Gòn mang tước hiệu Vương Cung Thánh Ðường.
Vào những lễ Phục sinh, Giáng sinh, lễ Chư thánh… 6 quả chuông của Nhà thờ Ðức Bà cùng đổ một lượt, âm thanh ngân vang trên 10 cây số đường chim bay. Tiếng ngân của 6 quả chuông hòa tạo ra thanh âm sắc lanh lảnh, nhưng êm dịu và rộn rã như tiếng reo vui của một đám đông từ xa vọng lại. Tiếng ngân đặc biệt của chuông Nhà thờ đức Bà không thể nào lẫn với chuông các nhà thờ khác.
Ngoài những danh hiệu giáo dân quen gọi là Nhà thờ Lớn, Nhà thờ Nhà nước, Nhà thờ Chánh tòa Sài Gòn, nhà thờ này còn có thêm một danh hiệu nữa là Nhà thờ đức Bà. Vì vào năm 1959, Linh mục Joseph Phạm Văn Thiên, cai quản Giáo xứ Sài Gòn lúc bấy giờ, đi dự đại hội Thánh Mẫu ở Vatican, đã đặt ở Roma tạc một tượng đức Mẹ Hòa Bình bằng loại đá cẩm thạch qúi hiếm. Tượng cao 4m80, nặng trên 3.000 kg. Khi tượng từ Roma gửi sang Sài Gòn, Linh mục Joseph Phạm Văn Thiên làm Phép Thánh cho tượng và dâng tước hiệu Nữ Vương Hòa Bình. Tự tay Linh mục viết câu kinh cầu nguyện “Xin đức mẹ cho Việt Nam được hòa bình” rồi đọc trước đông đảo quan khách có mặt hôm ấy, nhiều người vẫn còn ghi nhớ câu kinh cầu nguyện Hòa Bình của Linh mục Joseph Thiên cho đến ngày nay.
Hàng năm, vào đêm Noel, hàng trăm nghìn đồng bào và nam nữ thanh niên Thiên Chúa giáo hội tụ về đây xem lễ, các quảng trường chung quanh nhà thờ đều bị tràn ngập.
Ngày nay, xung quanh tòa nhà chính còn có thêm một số công trình kiến trúc làm kho tàng, lắp đặt những máy móc, thiết bị bưu điện truyền tin hiện đại…Nằm ở trung tâm thành phố, chợ Bến Thành rất đỗi quen thuộc với người dân Việt và du khách quốc tế khi đến tham quan du lịch thành phố Hồ Chí Minh. Chợ Bến Thành được hình thành và phát triển trong vòng trên dưới 100 năm nay và đã trở thành biểu tượng của Sài Gòn.
http://news.yestech.vn/uploadnews/Saigon_Marche.jpgChợ Bến Thành hiện nay được xây trên một cái ao sình lầy có tên là Bồ rệt (Marais Bosesse) được san lấp. Quyết định được đưa ra vào năm 1911 và đồ án của nhà Brossard et Mopin được chấp thuận năm 1912. Khánh thành linh đình gọi là lễ “Khai tân thị” vào tháng 4 năm 1914. Cái tên Bến Thành đã có từ trước khi chợ dời về vị trí như hiện nay. Vị trí đầu tiên của chợ là nằm sát ven sông – một bến nước của thành Gia Định cũ nên được mang tên là chợ Bến Thành. Sau đó để có mặt bằng làm bến tàu, Pháp cho dời chợ về vị trí kinh lắp (nay là đường Nguyễn Huệ) lúc này chợ không nằm ở bến sông nữa nhưng đồng bào vẫn dùng tên truyền thống là Bến Thành để gọi. Lần di chuyển thứ hai đến vị trí hiện nay vẫn gọi là chợ Bến Thành hoặc chợ mới Sài Gòn như được nói ở trên. Như vậy, chợ Bến Thành hiện nay được khai trương năm 1914 nằm trên diện tích rộng 12 ngàn m2 mặt chính hướng ra bùng binh round point Cuniac (Quách Thị Trang); mặt sau là đường Espagne (Lê Thánh Tôn); bên hông phải là đường Schroeder (Phan Chu Trinh) cũng là bến xe đò đi miền Tây; bên hông trái là đường Vienot (Phan Bội Châu) là bến xe đi miền Đông. Phía trước bên phải chợ là ga xe lửa (Công viên 23/9) có tuyến đường xuống Chợ Lớn và lên Lái Thiêu; phía trước bên trái là đường Bona (Lê Lợi).
http://www.wroughtiron.com.vn/fckFiles/ben-thanh-market.JPGĐầu thế kỷ 17, khi người Việt đến lập cư ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thì vùng đất Sài Gòn xưa trở thành nơi phố chợ đông đúc náo nhiệt nhất vùng nam Kỳ lục tỉnh. Năm 1859, có một chợ nhỏ nằm ở khu đất đồng lầy kề bên bờ sông Bến Nghé và sát thành Sài Gòn. Chợ Bến Thành được mô tả trong sử cũ như sau: Đó là một “phố chợ nhà cửa trù mật ở dọc theo bến sông. Chổ đầu bến này có lệ đến đầu mùa xuân gặp ngày tế mạ, có thao diễn thủy binh, nơi bến có đò ngang chở khách buôn ngoài biển lên. Đầu phố phía Bắc là ngòi Sa ngư, có gác cầu ván ngang qua, hai bên nách cầu có dãy phố ngói, tụ tập trăm thứ hàng hóa, dọc bến sông ghe buôn lớn nhỏ đến đậu nối liền”. Thời ấy, đất Gia Định là một vùng nông nghiệp trù phú nên chợ Bến Thành đầy hàng hóa, nào gạo, cá khô, tôm khô, cau, đường… bán ra để mua tơ lụa, quả thô, nhang, quạt, trà, đồ sành sứ, thuốc uống, dược thảo… từ nước ngoài mang đến. Sở dĩ có tên là Chợ Bến Thành là vì chợ gần bến sông và gần thành Qui. Đây chính là khu vực mà nay dành cho thương cảng Sài Gòn. Sau cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi (1833-1835) phố chợ Bến Thành không còn sầm uất như trước. Chợ được xây bằng gạch, sườn gỗ, lợp tranh.
Sau khi đánh chiếm Gia Định, thực dân Pháp đã cho lập một nhà lồng làm chợ ở ngay trên nền đất mà nay là trường Trung học Ngân Hàng 3. Ngôi chợ này bị cháy năm 1870, nhưng đã được trùng tu với sườn sắt. Trước nhà lồng chợ có con kinh rộng chạy đến trước cửa tòa nhà nay là trụ sở của Ủy ban Nhân dân thành phố. Đến năm 1887-1888 thì con kinh này được lấp lại, làm cho khu vực Võ Di Nguy, Tôn Thất Thiệp trở nên náo nhiệt hơn. Đại lộ Nguyễn Huệ trước kia là đường kinh lấp. Ngôi chợ Bến Thành được chuyển đến vị trí ngày nay. Nhà lồng chợ được khởi công xây cất trên vùng đất trước đó là một ao sình lầy gọi là ao Boresse. Thế là chợ Bến Thành xưa trở thành Chợ Cũ, còn Chợ Bến Thành mới được gọi là Chợ Mới Sài Gòn. Ngôi chợ này được khởi công xây cất từ khoảng năm 1912 và khánh thành vào tháng 3 năm 1914. Ngày khánh thành có khoảng 100.000 người tham dự, có cả dân từ các tỉnh đổ về. Cuộc lễ diễn ra trong ba ngày 28, 29 và 30 tháng 3 năm 1914 với pháo bông, xe hoa. Hai con đường bên hông chợ mãi đến năm 1940 còn là bến xe đò miền Đông và miền Tây. Gần một trăm năm qua, chợ Bến Thành bao giờ cũng là một trung tâm thương mại, trung tâm phồn hoa náo nhiệt của thành phố Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ cũ. Dần dần nó trở thành một chợ lớn, nơi tập trung những mặt hàng quí hiếm của trong nước và nước ngoài.
Sau ngày giải phóng, năm 1975, chợ Bến thành được sắp xếp và cải tạo lại một cách gọn gàng và ngăn nắp hơn. Trong chợ Bến Thành ngày nay chúng ta có thể tìm thấy đủ loại hàng hóa, từ thực phẩm vật dụng hàng ngày, hàng nhập cảng cũng như hàng nội hóa, từ những mặt hàng thông thường đến những hàng xa xỉ phẩm. Tính từ năm 1914 chợ Bến Thành đã trải qua bao thăng trầm và chứng nhân của bao biến cố và sự kiện lịch sử của hơn nửa thế kỷ đấu tranh chống ngoại bang giành độc lập. Năm 1944 chợ bị máy bay đồng minh ném bom làm hư hại nặng nề ; năm 1950 được trùng tu lại; năm 1951 ngày 9/11, hàng vạn học sinh, sinh viên biểu tình đã đốt phá chợ bày tỏ lòng căm phẫn đối với thực dân Pháp và tay sai ; đầu thập niên 70 chính quyền Sài Gòn có ý định phá dỡ chợ Bến Thành để xây mới hoàn toàn theo đồ án của kiến trúc sư Huỳnh Kim Mảng.
http://a8.vietbao.vn/images/vn802/xa-hoi/20821560_images1688445_cho%20ben%20thanh.jpgNăm 1985, Ủy ban Nhân dân thành phố và Quận 1 đã cho chỉnh trang và sửa chữa lớn chợ Bến Thành. Nhà lồng chợ và các gian hàng, sạp hàng được sữa chữa và làm mới, duy chỉ có dáng vẻ phía trước với tháp đồng hồ được giữ lại như xưa. Chợ Bến Thành ngày nay có khoảng 3.000 hộ kinh doanh. Hình ảnh chợ Bến Thành thường được dùng làm biểu tượng cho thành phố.
Chợ Bến Thành ngày nay lại được đầu tư nâng cấp to đẹp lên rất nhiều so với trước, để nó xứng đáng là một trung tâm buôn bán lớn ở phía nam đất nước. Hàng hoá chợ Bến Thành rất phong phú, bao gồm hầu hết các sản vật trong nước – đặc biệt là sản vật ở vùng đồng bằng sông Cửu Long – cùng các mặt hàng công nghệ hiện đại trên thế giới.
Mười Tám Thôn Vườn Trầu xưa được sách Gia Định thành thông chí gọi theo cách chữ Hán là Phù Lưu Viên (vườn trầu) để chỉ miệt vườn Bà Điểm – Hóc Môn. Dưới thời Minh Mạng (1820 – 1840) đấy là các thôn thuộc tổng Dương Hòa Thượng, huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định. Nay Vườn Trần thuộc huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.
Vị trí: Mười tám Thôn vườn trầu thuộc xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, ngoại vi Tp. Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố chưa đầy 10km.
Ðặc điểm: Bà con sinh sống lâu đời ở đây coi trồng trầu là một nghề ăn nên làm ra. Do vậy mà, vườn nhà nọ nối với vườn nhà kia bằng một màu xanh bất tận của cây trầu.
Phù Lưu Viên, theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức nguyên là một vùng hiểm yếu, có nhiều rừng rậm, mãnh hổ thường bắt người, nên tục ngữ có câu “dữ như cọp Vườn Trầu”. Tuy thế, ở chỗ thị tứ thì dân cư đông đúc, có nhiều vườn trầu. Mỗi lúc đi bán trầu, các nhà vườn thường rủ nhau cùng nhập toán lên đến ba, bốn mươi người gồng gánh đem trầu về bán tận Sài Gòn, Bến Nghé.
Mười Tám Thôn Vườn Trầu còn nổi tiếng với nghề nuôi ngựa đua:
Trải xem Thập Bát Phù Viên,
Một nơi Bà Điểm khuôn viên mỹ miều.
Ngựa hay mua sắm quá nhiều,
Mỗi kỳ đua ngựa thảy đều có ăn.
Hai mươi hai hạt xa gần,
Tiếng ngựa Bà Điểm ai bằng đặng đâu
Và nghề nuôi gà đá:
Tiếng đồn gà đá chưn trơn
Thời gà Bà Điểm lắm cơm ăn tiền.
Mười Tám Thôn Vườn Trầu là quê hương và đồng thời là một trong các địa bàn hoạt động của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, người đã lập nên tờ báo “La Cloche fêlée”, “La Lutte” công kích giới quan lại thối nát và lên án thực dân Pháp.
Điểm nổi bật nhất của Mười Tám Thôn Vườn Trầu là tinh thần đoàn kết chiến đấu, là tính cách mạng rất sớm ngay từ khi đất nước mới sa vào vòng lệ thuộc. Phản ứng của nhân dân Mười Tám Thôn Vườn Trầu trước cảnh áp bức là:
Mười tám thôn ruột đau như chỉ thắt
Dân Hóc Môn tợ muối xát lòng
Mùa xuân năm 1885, nông dân Hóc Môn và Đức Hòa, dưới sự chỉ huy của hai ông Phan Công Hớn (người Bà Điểm) và ông Nguyễn Văn Quá (người Đức Hòa) đã đứng lên khởi nghĩa. Trấn quận Hóc Môn lúc bấy giờ là đốc phủ Trần Tử Ca, nổi tiếng là tên tay sát khát máu và đắc lực của thực dân Pháp:
Xe song mã sướng đà quá sướng
Dân bần tiện lòng kia chẳng tưởng
Eép lấy dầu, nạp thiểu thâu đa
(vè Quản Hớn)
Đêm 30 rạng mồng một Tết Ất Dậu (1885), nhân dân Hóc Môn nổi lên chiếm Hóc Môn:
Gậy tầm vông, võ ống vai mang,
Qua giờ dậu đoạt nơi yểm lộ.
Dân Hóc Môn bắn chết Đốc phủ Ca, bêu đầu lên cột đèn trước chợ rồi kéo rốc về Sài Gòn, nhưng chỉ đến Bình Hòa thì đụng phải quân Pháp. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp đẫm máu. Nghĩa quân thua trận.
Tinh thần của Mười Tám Thôn Vườn Trầu không ngừng lại ở đấy mà tiếp tục vào các giai đoạn sau.
Mười Tám Thôn Vườn Trầu với những gia đình cơ sở cách mạng trung kiên chí cốt đã là địa bàn hoạt động của Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam ngay từ thập kỷ đầu của Đảng. Tại đây đã có mặt các nhà lãnh đạo cách mạng như Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần… cũng tại đây đã diễn ra nhiều cuộc họp quan trọng và quyết định của Trung Ương Đảng. Hai hội nghị Trung Ương lần thứ tư vào năm 1937, lần thứ năm vào năm 1938 đều họp tại ấp Tiền Lân. Đặc biệt hội nghị Trung Ương Đảng lần thứ sáu vào năm 1939 họp tại ấp Tây Bắc Lân, các nhà cách mạng Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần tham dự. Hội nghị đã giải quyết những vấn đề chiến lược nhằm đánh đổ chính quyền đế quốc và tay sai bằng cách vận dụng thời cơ từ cuộc chiến tranh thế giới để giành chính quyền.
Cuộc Khởi Nghĩa Nam Kỳ bùng nổ đầu tiên tại Hóc Môn vào rạng sáng 23 tháng 11 năm 1940. Người dân Mười Tám Thôn Vườn Trầu tự vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác đánh vào các cơ quan hành chính của Pháp. Cuộc khởi nghĩa bị đàn áp đẫm máu. Các nhà lãnh đạo chủ chốt Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Cừ, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần bị bắt và bị xử bắn ngay tại trên mảnh đất Hóc Môn. Dù bị đàn áp, người dân Mười Tám Thôn Vườn Trầu vẫn kiên cường tiếp tục chiến đấu, góp công to lớn cho sự nghiệp giải phóng và thống nhất của đất nước.
Ngày nay Mười Tám Thôn Vườn Trầu đang nỗ lực xây dựng kinh tế, trở thành vùng trọng điểm chuyên canh rau của Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt trong thời gian gần đây Hóc Môn phát triển nhanh đàn bò sữa và cũng đang trở thành vùng trọng điểm vành đai bò sữa của thành phố. Một loại hình hợp tác mới nhằm giúp nhau làm ăn, đóng góp cho sự phát triển của địa phương cũng đang hình thành tại đây. Đó là sự ra đời của các nhóm làm kinh tế gia đình – khuyến nông có mục đích hỗ tương giúp đỡ để áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp, chăn nuôi, sưu tập vườn cây…
Danh xưng Mười Tám Thôn Vườn Trầu mãi mãi là ấn tượng về một địa danh giàu tính truyền thống và cách mạng.
Mười tám Thôn vườn trầu thuộc địa phận huyện Hóc Môn, ngoại vi Sài gòn , cách trung tâm thành phố chưa đầy 10 km. Từ xa xưa, dân vùng này đã nổi tiếng là khẳng khái, trọng nghĩa khinh tài, giàu lòng tương thân tương ái. Vua tôi nhà Nguyễn cũng phải mặc nhiên chấp nhận lẽ thời của những người dân “cứng đầu cứng cổ” ở nơi đây.
Thời ấy Mười tám Thôn vườn trầu lắm thứ dữ, cảnh trí hoang sơn, cỏ cây rậm rạp. Nhắc tới địa danh này, nhiều cụ cao niên cho biết ngày xưa ở đây nhiều hổ lắm, “ông ba mươi” đi trên đường làng giữa ban ngày, còn ban đêm thì thả sức tung hoành quấy phá, bởi vậy mới có câu truyền miệng “dữ như hổ Mười tám Thôn vườn trầu”. Bà con sinh sống lâu đời ở đây coi trồng trầu là một nghề ăn nên làm ra. Do vậy mà, vườn nhà nọ nối với vườn nhà kia bằng một màu xanh bất tận của cây trầu. Nghề nuôi ngựa, nuôi gà chọi cũng là một trong những nghề nổi tiếng ở đây. Buổi đầu Pháp xâm chiếm Nam Bộ, giữa tết năm ất Dậu (1885), nhân dân Mười tám Thôn vườn trầu đã nổi dậy, khởi nghĩa giết đốc phủ Ca, một tên tay sai gian ác, rồi kéo quân vào Sài Gòn…..
Năm 1930 khi Ðảng Cộng Sản Ðông Dương ra đời thì Mười tám Thôn vườn trầu được chọn làm hậu cứ, nơi nuôi dưỡng các cán bộ lãnh đạo của Ðảng, nơi cất dấu tài liệu bí mật của Ðảng. Trong khoảng thời gian năm 1930 đến 1940, bà con Mười tám Thôn vườn trầu đã bảo vệ, che dấu, nuôi nấng nhiều chiến sĩ cộng sản, nhiều người con ưu tú của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam: Nguyễn Văn Cừ, Phan Ðăng Lưu, Hà Huy Tập, Võ Văn Tần, Nguyễn Thị Minh Khai, Hoàng Quốc Việt, Lê Duẩn……Tin vào dân, dựa vào dân, Trung ương Ðảng đã tổ chức ở đây ba cuộc họp quan trọng. Tháng 3 năm 1937 Trung ương Ðảng họp hội nghị mở rộng kiểm điểm tình hình, bàn chủ trương biện pháp cụ thể, nhất là công tác mặt trận và công tác đấu tranh hợp pháp để đẩy mạnh phong trào cách mạng tại ấp Tiến Lâm. Cũng tại ấp này, tháng 3 năm 1938, Trung ương Ðảng họp hội nghị toàn thể kiểm điểm ưu khuyết điểm về các mặt công tác: xây dựng Ðảng, tổ chức quần chúng, xây dựng mặt trận. Và đề ra những chủ trương cụ thể nhằm phát huy thắng lợi đã giành được, đưa phong trào đấu tranh dân chủ lên một bước nữa. Từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 11 năm 1939, hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ 6 khai mạc tại ấp Tây Bắc Lân – Mười tám Thôn vườn trầu với sự tham gia của các đồng chí Nguyễn Văn Cừ (Tổng bí thư), Lê Duẩn, Phan Ðăng Lưu, Võ Văn Tần….. Hội nghị đã bàn toàn diện các chủ trương của Ðảng trong tình hình mới. Ðêm 23 tháng 11 năm 1940, khởi nghĩa Nam kỳ bùng nổ. Cả một vùng rộng lớn nông thôn Nam Bộ rung chuyển trước sức nổi dậy, tiến công của quần chúng cách mạng. Ngày đó, bà con Mười tám Thôn vườn trầu tự vũ trang bằng gậy gộc, giáo mác đánh vào các cơ quan hành chính của thực dân Pháp. Do điều kiện chưa chín muồi, cuộc khởi nghĩa này đã thất bại. Thực dân Pháp dựng trường bắn ngay tại thị trấn Hóc Môn – chỗ ngã ba Giồng. Tại đây, những người con ưu tú của dân tộc, những cán bộ xuất sắc của Ðảng: Nguyễn văn Cừ, Võ Văn Tần,. Phan Ðăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai…….. đã ngã xuống.
Ngày nay Hóc Môn vẫn còn những di tích lịch sử ghi dấu những giai đoạn lịch sử anh hùng của nhân dân Hóc Môn cùng nhân dân Nam Bộ đấu tranh anh dũng kiên cường với thực dân Pháp, đế quốc Mỹ dành độc lập. Nhưng “Bia căm thù” ở Cầu Xáng, khu di tích Nam Kỳ Khởi Nghĩa ở Ngã ba Giồng, bia kỷ niệm liệt sĩ Nguyễn Thị Minh Khai… Cùng với địa danh 18 Thôn vườn trầu Bà Ðiểm, Hóc Môn mãi mãi vẫn còn lưu danh khi nói đến Hóc Môn. Cùng với những thành tích vẻ vang trong 2 cuộc kháng chiến, huyện Hóc Môn xứng đáng được Nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng, trong đó có 3 xã là 3 đơn vị anh hùng là xã Xuân Thới Thượng, Tân Xuân và Bà điểm.Trường Trung Học Phổ Thông Lê Quý Đôn là một trường phổ thông trung học công lập của Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là trường trung học xưa nhất Sài Gòn, được thành lập năm 1874, với tên gọi ban đầu Collège Chasseloup-Laubat.

Sau khi chiếm được toàn cõi Nam Kỳ, ngày 14 tháng 1 năm 1874, Thống đốc Nam Kỳ, Chuẩn Đô đốc (Contre-amiral) Pháp Jules François Emile Krantz (1821-1914) đã ký nghị định thành lập một ngôi trường trung học tại Sài Gòn nhằm phục vụ nhu cầu đào tạo con em những thực dân người Pháp tại Sài Gòn. Chương trình giảng dạy theo chính quốc, dạy từ tiểu học đến tú tài (chương trình Pháp). Trường sở được khởi công xây dựng ngay vào năm 1874 và hoàn tất vào năm 1877.
Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ), không lâu sau được đổi tên thành Collège Chasseloup Laubat, theo tên Bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại (còn gọi là Bộ Thuộc địa) lúc bấy giờ là François Marquis de Chasseloup-Laubat (1754-1833).
Ban đầu, trường chỉ nhận các học sinh người Pháp, đến đầu thế kỷ 20 thì mở rộng để nhận thêm học sinh người Việt, tuy nhiên phải có quốc tịch Pháp. Do đó, trường phân biệt thành 2 khu:
•Khu dành riêng học trò người Pháp, gọi là Quartier Européen
•Khu dành cho học trò Việt có học thêm giờ tiếng Việt, gọi là Quartier indigène (khu bản xứ)
Cả 2 khu này đều học chung chương trình Pháp và thi tú tài Pháp.
Tuy là một khu trường dành cho những người có quốc tịch Pháp (do đó, trường còn có tên là trường Bổn quốc Sài Gòn, khác với các trường bản xứ khác), vào năm 1926, những học sinh người Việt đã viết lên bảng 4 chữ A.B.L.F, viết tắt câu “A bas les Français” (nghĩa là “Đả đảo thực dân Pháp”) trong một lần bãi khoá để tang nhà chí sĩ Phan Chu Trinh.
Ngày 28 tháng 11 năm 1927, Toàn quyền Đông Dương G. Gal ra một nghị định thiết lập tại Chợ Quán một phân hiệu tạm thời của Collège Chasseloup Laubat dành cho học sinh người bản xứ lấy tên là Collège de Cochinchine. Phân hiệu này được đặt dưới sự điều hành của Ban Giám đốc Trường Chasseloup Laubat và môt giáo sư phụ trách tổng giám thị của phân hiệu.
Ngày 11 tháng 8 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương tạm quyền René Robert ký nghị định số 3116 gồm 6 điều, thành lập tại Chợ Quán, kể từ kỳ tựu trường 1928-1929 một trường Cao đẳng Tiểu học Pháp bản xứ, chuyển giao phân hiệu tạm thời với trên 200 học sinh của Collège Chasseloup Laubat nói trên vào trường này, có sát nhập một hệ Trung học Đệ nhị cấp bản xứ (Lycée) để thành lập một trường mới, về sau có tên là Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký, hay trường Petrus Ký.
Sau năm 1954, với dụng ý tránh gợi nhớ thời thuộc địa, trường được đổi tên là trường Jean Jacques Rousseau, dạy chủ yếu là học sinh người Việt, nhưng vẫn do người Pháp quản lý. Đến 1967, trường được trả lại cho Việt Nam và trở thành Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Từ 1975, chính quyền Việt Nam vẫn giữ tên gọi Lê Quý Đôn cho ngôi trường này.

Trải qua hơn một thế kỷ, kiến trúc ban đầu của ngôi trường vẫn còn gân như nguyên vẹn, gồm bốn dãy nhà cao hai tầng ghép lại có hình chữ “khẩu”. Với lối kiến trúc mang đậm chất Tây Âu, trường sở được xem như một kiến trúc cổ có lịch sử văn hóa lâu đời, vẫn giữ gìn được nét truyền thống cổ kính mặc dù đã được trùng tu, sửa chữa. Dựa trên nền kiến trúc cổ, hiện tại trường sở đã xây thêm một số công trình phụ gồm nhà luyện tập thể thao và 10 phòng học kiểu mới. Tính truyền thống và hiện đại được nhà trường chú ý ngay trong khâu thiết kế và trang trí, vì thế ngôi trường Lê Quý Đôn vẫn mang đậm nét cổ kính
Thời Pháp trường nổi tiếng với nhiều giáo viên và học sinh giỏi được lưu danh. Ngàu nay, trường là một trong những trường đầu tiên thực hiện mô hình chất lượng cao tại thành phố HCM. Tuy bước đầu gặp nhiều khó khăn, nhưng trường đang từng bước khẳng định vị trí trên toàn thành phố. Năm 2009 trường đã hoàn tất lứa đầu tiên của mô hình mới vơí tỉ lệ tốt nghiệp 100% và chính thức trở thành trường Công lập tự chủ tài chính.
Hà Nội có 36 phố phường, còn Sài Gòn có gì cho ra phố nhỉ? Chạy xe dạo chơi với bạn bè chiều chủ nhật, lang thang đường Nguyễn Trãi ngắm phố thời trang rực rỡ màu sắc, chọn một bộ cánh thật xinh, ghé qua phố Nguyễn Đình Chiểu tậu một đôi giày, rồi dạo phố đồ cổ Nguyễn Công Kiều và đi uống cà phê ở Hồ Con rùa.
Từ phố cà phê đến phố thời trang
Một góc phố của Sài Gòn xưa được tái hiện trong phim “Người Mỹ trầm lặng”. Từ đường Trần cao Vân, chỉ nǎm phút đi bộ là khách bộ hành thấy mình đang lạc giữa phố cà phê rực rỡ nhất Sài Gòn. Con phố này nằm ngay vòng xoay Hồ Con Rùa hay gọi là Công Trường Quốc Tế. Điểm lợi thế là ở đây có vòi phun nước ở hồ phả lên dịu mát, những hàng cây sao lâu nǎm tỏa râm tàn cây che đi cái nắng khắc nghiệt của Sài Gòn. Không gian thoáng đãng, gió thổi dìu dịu. Thử đi một vòng và tính nhẩm, khoảng 20 quán cà phê chưa kể những quán lề đường. Và điều đặc biệt ở khu này đều tập trung những quán cà phê có “tiếng tǎm” như Window, Miss Sài Gòn, PaPa, ánh Trǎng… Ngày cũng như đêm nhộn nhịp, và nếu bước chân vào những quán này bạn bắt gặp những khuôn mặt nam thanh nữ tú của Sài Thành, hầu hết là giới kinh doanh, công nhân viên chức và giới lắm tiền nhiều bạc rảnh thời gian. Chỉ một số ít là sinh viên, bởi sinh viên đã có thế giới cà phê riêng dành cho họ chỉ vì giá cả của thức uống những nơi này rất đắt từ 15.000 đến 30.000 đồng/1 ly cà phê. Với sinh viên đây là tiền ǎn trong 3 ngày ở ký túc xá. Nhưng dù gì sinh viên cũng có thể thưởng thức hương vị cà phê ở phố này bởi những quán cóc xung quanh Hồ Con Rùa. Nói là quán nhưng đâu kém phần thú vị. Mỗi buổi sáng sớm hay chiều tối ở những quán này khách đông như nêm, nếu tới trễ một chút bạn sẽ không còn chỗ ngồi. Ngồi ở đây, bạn vừa nhâm nhi ly cà phê hợp túi tiền, chất lượng đâu thua gì những quán sang trọng kia bởi nó mắc vì tiền máy lạnh. Bạn vừa có thể hít thở không khí thiên nhiên từ những hàng cây xanh và hơi lạnh dịu mát từ Hồ Con Rùa tỏa ra, vừa ngắm nhìn thiên hạ trẩy hội trên đường.
Nhắc đến Sài Gòn không thể không nhắc đến phố thời trang bởi Sài Thành là nơi phát kiến những bộ trang phục đạt giải cao trong những cuộc thi quốc tế, là nơi người dân ǎn mặc những bộ quần áo đắt tiền cả hàng chục triệu đồng, sang trọng, model nhất và cũng là nơi người dân có thể ǎn mặc những mốt không giống ai! Sài Gòn có nhiều con đường bán áo quần thời trang như: Cách Mạng Tháng 8, Trần Huy Liệu, Trần Quang Diệu, Lê Vǎn Sĩ, Nguyễn Đình Chiểu, Hai Bà Trưng nhưng có lẽ đáng nể và đáng kể nhất là phố thời trang trên đường Nguyễn Trãi (Quận 1). Gần 200 cửa hiệu thời trang từ hàng hiệu nước ngoài giá mấy triệu đồng một cái áo cho đến hàng hiệu Việt Nam vài trǎm ngàn đồng và cửa hàng bán đồ bình dân nữa, nhưng có lẽ những cửa hàng này hơi bị lép vế bởi sự bắt mắt và trang trí ấn tượng của những cửa hiệu nổi tiếng trong một mặt bằng rộng và tiếng nhạc xập xình.
Phố cổ
Muốn chọn một món hàng cổ hay giả cổ để chưng trong nhà hay tặng cho bạn bè, mời bạn đến phố đồ cổ Nguyễn Công Kiều (quận 1). Đường Nguyễn Công Kiều chỉ dài khoảng 200m với khoảng 40 hộ có những gian hàng bán đồ cổ và giả cổ. Đồ cổ hay không thì chỉ có những người trong nghề mới biết được nhưng điều lý thú là nếu vào đây hình như bạn lạc vào thế giới cổ xưa. Cái gì cũng cũ cũ, mờ mờ, mang đậm dấu ấn thời gian. ở gian hàng đèn bạn có thể chiêm ngưỡng hàng trǎm loại đèn kiểu dáng phong phú và lạ mắt. Có chiếc gần 100 nǎm (theo lời người bán), những chiếc đèn của Mỹ hay Pháp hồi xưa cũng có mặt ở đây. Còn ở gian hàng đồng hồ, bạn sẽ càng ngạc nhiên thú vị khi nhìn thấy những chiếc đồng hồ quả lắc những nǎm 1920, 1930 bị gỉ sét cũng được bày bán, mà dĩ nhiên có nhu cầu mua thì mới có hàng trưng bày. Càng đặc biệt hơn, phố đồ cổ đúng thực là phố khi những gian hàng được bày bán ngay bên lề đường. Người bán trưng bày các món hàng ra tràn lan cho khách lựa chọn, nêu một giá nhất định, không kèo nài giá cả, thích thì khách mua, không thì thôi. Có thể nói khi đến phố đồ cổ này bạn như đang đến tham quan một viện bảo tàng. Bạn có thể tìm hiểu lịch sử qua các món đồ trưng bày và được minh họa bởi lời kể của người bán hàng. Từ hòn đá xanh hình lưỡi dao ngày xưa được cha ông ta dùng làm dao để sinh hoạt cho đến những bình gốm cổ… Đến phố cổ Nguyễn Công Kiều cũng là một cách bạn học về lịch sử, và biết đâu bạn sẽ tậu được trong tay một món đồ cổ với giá… hời. Rồi biết đâu nó là vật quý mai sau…
Và… mênh mang Sài Gòn phố
Sài Gòn thênh thang và còn nhiều phố nữa như phố cưới đường 3 tháng 2 với một con đường dài rực rỡ những bộ váy của cô dâu và hàng chục studio chụp ảnh cưới, phố thuốc bắc trên đường Hải Thượng Lãn Ông mà chỉ cần đi đến đầu phố thôi, nghe mùi thuốc bay lên từ những thang thuốc bắc thơm nồng hương liệu của lá, của cỏ, của cây thì bao bệnh tật trong người như bay đi hết, phố tranh đường Nguyễn Vǎn Trỗi trưng bày những sản phẩm mỹ thuật có giá trị rất cao. Phố giày đường Nguyễn Đình Chiểu với những cửa hiệu giày thời trang nổi tiếng của Việt Nam như T & T, Vina Giày, Hồng Thạnh, Hạnh Dung, Hồng Anh… và các cửa hiệu giày ngoại của ý, Pháp, Anh… phố ảnh trên đường Nguyễn Huệ với hàng chục minilab với trang thiết bị kỹ thuật về ảnh tối tân đem lại cho bạn những tấm ảnh tuyệt vời lưu lại kỷ niệm ngọt ngào. Rồi thì phố may màn cửa trên đường Điện Biên Phủ, phố trang trí nội thất trên đường Cộng Hòa, phố ẩm thực trên đường Lê Quý Đôn, chỉ cần dạo một vòng trên con đường nhỏ này bạn đã nếm đủ những món đặc trưng của Sài Gòn, phố photocopy trên đường Lý Thái Tổ giá cả rất mềm và tiết kiệm cho bạn thời gian, phố hoa trên đường Cách mạng Tháng 8, gần ngã tư Bảy Hiền hay góc đường Lê Thánh Tôn bên hông chợ Bến Thành, phố tràn ngập hoa và hoa, từ những đóa hồng rực rỡ của xứ Đà Lạt mộng mơ đến cành hoa tulip của Hà Lan ánh lên trong nắng, hoa lyly khoe thắm sắc màu…
Ngày xuân, dạo phố Sài Gòn, mỗi góc phố, mỗi con đường có những nét đặc trưng riêng và thú vị của nó. Những gian hàng trên mỗi đường phố đang tự tạo cho mình những chiếc áo mới xinh đẹp và tươi tắn hơn. Và hình như Sài Gòn đang tạo cho mình những góc phố mang tên của những gian hàng ấy. Bởi Sài Gòn là nàng công chúa đỏng đảnh đang đi tìm nét riêng cho mình. Thú vị thay chiều Sài Gòn bát phố!
Khu Phố dành cho khách du lịch nước ngoài có thu nhập thấp, nổi tiếng ở Đông Nam Á nằm trên đường Phạm Ngũ Lão, TP HCM chiếm 7 khối phố. Nhưng trong những khách sạn nhỏ, các quán café Internet và quán café, du khách có thể tìm thấy một thị trường tự do thu hẹp hình thành nên Việt Nam.
Cách đây một thập kỷ, Phạm Ngũ Lão là một khu dân cư, sự yên tĩnh duy nhất vào buổi sáng sớm của nó bị phá vỡ bởi những chuyến xe chở nông dân từ vùng đồng bằng Cửu Long đến bán nông sản. Hai khách sạn duy nhất của khu phố là Hoàng Tú và Viễn Đông cung cấp chỗ nghỉ đêm cho những người bán hàng này với giá 1 đồng/đêm. Ở đây, khách nước ngoài thường bị từ chối.
Ngày nay, những khách sạn này-đã được đổi mới và nâng cấp-cùng với hơn 100 nhà trọ và khách sạn mini trong khu vực cạnh tranh nhau quyết liệt trong việc giảm giá, nâng tiêu chuẩn để thu hút khách vì Việt Nam đã rất mạnh mẻ trong việc gia nhập vào Đông Nam Á như là một điểm đến của ngành du lịch.
Nếu có người nào xứng đáng được xem là người thành lập Khu phố Tây Phạm Ngũ Lão, đó chính là Bà Trần Ngọc An, hiện trên năm mươi tuổi. Trong thời chiến tranh Việt Nam, bà làm trong Tòa Đại sứ và trong những năm sau cùng của thập kỷ 1970, bà bán rau cải và nước mát từ một tủ lạnh cũ hiệu Sears.
Khi Việt Nam chuyển đổi sang kinh tế thị trường năm 1989, bà bị thuyết phục với ý tưởng Việt Nam sẽ trở thành một điểm đến nổi tiếng và cho là khu phố chỉ cách trung tâm thương mại của thành phố không xa sẽ trở thành một nơi nghỉ hoàn hảo cho những khách du lịch có thu nhập thấp. Bà thuyết phục khách sạn Hoàng Tú cho đặt một bàn đăng ký tour ở hành lang.
Khách hàng đầu tiên của bà là một cặp vợ chồng người Hà Lan, sau đó là khách ba lô Đức, Israeli và Pháp-ngay cả có một cựu chiến binh Mỹ. Bà nói tiếng Anh và phục vụ rất tốt, tiếng tốt lan đi nhanh chóng. Công ty du lịch của bà An trở thành công ty du lịch tư nhận đầu tiên được Nhà nước cấp phép.
Đối với những du khách đầu tiên năm 1989, Việt Nam không phải là vùng Riviera của Pháp. Họ cần phải có giấy phép đặc biệt để đi mọi nơi, công an có thể gõ cửa khách sạn vào ban đêm để xem du khách có ở trong phòng không, và không người Việt Nam nào dám trò chuyện với người nước ngoài trên đường phố.
Trong một thời gian dài, Việt Nam đã đóng cửa và ngày nay Chính quyền đang quan tâm đến ngành du lịch-một ngành thu hút nhiều nhân lực, tổ chức nhiều lớp học đào tạo du lịch bậc đại học và là nguồn thu hút ngoại tệ chính-một bệ phóng cho sự phát triển kinh tế. Trong những năm qua ngành này đã có nhiều thay đổi với những khu du lịch sang trọng ở các bãi biển Đà Nẵng, Nha Trang và hàng tá khách sạn năm sao ở TP HCM và Hà Nội.
(SGN-Theo Los Angeles Times)
Tham quan Phố Tây
Khu tây ba lô nằm ở phường Phạm Ngũ Lão với những dãy phố hẹp dài tít tắp. Và dường như cái chật hẹp ngột ngạt này làm nên sự quyến rũ kỳ lạ đối với du khách. “Bạn có thể sống cả năm ở đây mà chẳng cần phải đi đâu cả” – Rayanam, một anh bạn da đen đã ở đây cả năm trời từng nói với tôi như vậy. Anh đến từ cộng đồng da đen ở Houston, Mỹ, đến đây để dễ thở hơn bằng trợ cấp thất nghiệp. Bạn có thể dễ dàng bắt gặp Ray lang thang la cà quán xá trên khu Bùi Viện – Đề Thám cả ngày. Và như đã nói bạn có thể mua mọi thứ rẻ hơn so với khu Đồng Khởi rất nhiều. Ví dụ nhé, một người bạn của tôi cần mua một cái nón lưỡi trai, sau khi bị hét 180 nghìn đồng cho một cái giả Nike, anh về Bùi Viện và mua một cái giống y với giá 25 nghìn.
Để khẳng định điều này có một cách rất đơn giản, đầu tiên bạn hãy đến với Phố Tây ở Sài gòn -nơi dành riêng cho khách du lịch ba lô, tiếp theo đó bạn chỉ cần bỏ chút thời gian thâm nhập vào cuộc sống du lịch của những Tây ba lô có mặt tại đây. Đã có nhiều người đến với Việt Nam mà trong túi chỉ vẻn vẹn vài trăm đôla, cùng đồng hành với họ đơn giản chỉ là một bản photocopy của những cuốn sách hướng dẫn du lịch?
Phải chăng điều kỳ lạ nằm trong những cuốn sách ấy? Xin thưa ngay rằng những cuốn sách được photocopy đó chỉ là những kiến thức, những hướng dẫn rất thông thường và bạn có thể tìm thấy ở bất cứ cuốn sách nào khác. Và chẳng có điều kỳ lạ nào cả bởi trong đó ngoài những hướng dẫn thì chỉ có đôi chút kinh nghiệm “truyền tay” của những người đã từng đi du lịch, nhất là đã từng đến với Phố Tây.
Phố Tây, cái tên nghe rất lạ, thế nhưng đối với người dân Sài Gòn và khách du lịch (những ai từng đến với TP Hồ Chí Minh) thì nó lại chẳng xa lạ gì. Thực ra Phố Tây chỉ là một con đường lớn mang tên Phạm Ngũ Lão, Phố Tây chỉ là tên gọi xuất hiện gần đây khi người ta muốn nói tới con đường này. Thật chẳng ngoa chút nào khi người ta gọi tên nó như vậy bởi hầu như tất cả khách du lịch nước ngoài khi đến với thành phố náo nhiệt này đều đặt chân đến khu phố này. Tất cả những điều được coi là “khó tin” đó lại là chuyện thường ngày và chẳng đáng kể gì ở Phố Tây. Giống như những con phố bất kỳ dành cho khách du lịch nước ngoài nào, Phố Tây trở thành một địa chỉ hấp dẫn cho khách du lịch cả trong và ngoài nước. Cái hấp dẫn của Phố Tây là ở chỗ giá của nó khá rẻ, điều này chẳng cần quảng cáo gì người ta cũng biết.
Thực ra đường Phạm Ngũ Lão mới mở cho kinh doanh du lịch ba lô được gần 10 năm gần đây. Đó là những phố và hẻm bao quanh ba khách sạn quốc doanh lớn là Tự Do 3 và Tự Do 4 cùng Viễn Đông, san sát những hiệu cà phê đường, cửa hàng lưu niệm, tour du lịch và khách sạn mini rẻ tiền. Quả thật là rất rẻ! Căn phòng “đời mới” ở khách sạn Tự Do 3 là 4 đô la một đêm, các giường ngủ ở những nhà nghỉ gần đó chỉ có 3 đô la cho khách thuê.
Cùng với dịch vụ nhà nghỉ, các quán ăn cũng mọc lên san sát, những hiệu ăn này có ba điểm chung rất dễ nhận thấy là: trang trí giống nhau, phục vụ thanh đạm và đặc biệt là giá rất rẻ. Ở bất cứ một khách sạn hay nhà nghỉ nào khách du lịch cũng có thể đặt hoặc tham gia trực tiếp các tour du lịch trong ngày bằng xe buýt, giá của các tour này rẻ đến mức kinh ngạc, 4 đến 7 đô la cho một tour đi địa đạo Củ Chi, Vũng Tàu, Cao Đài, xa hơn nữa có thể là đồng bằng sông Cửu Long, Nha Trang hoặc ra phía Bắc. Một chuyến xe buýt đi từ TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội (1.726 km) với điểm dừng chân cho phép tại Đà Lạt, Nha Trang, Hội An và Huế chỉ tốn có 29 USD.
Chỉ trên con Phố Tây mà có tới bốn hãng hoạt động bán quốc doanh đó là: Lữ hành Kim, Du lịch Bến Thành, Fiditourist và Du lịch Sài Gòn cùng với những hiệu ăn tư nhân và một số các nhà kinh doanh nhỏ hơn khác. Với khung lợi nhuận thấp những công ty tour du lịch kiểu này phụ thuộc vào số lượng, bởi còn thiếu nhiều kinh nghiệm.
Một doanh nhân du lịch tiêu một ngày bằng một du lịch ba lô tiêu một tuần. Thế nhưng công việc làm ăn của các nhà “tổ chức lữ hành” ở Phố Tây là một bằng chứng khẳng định không vì thế mà họ bị giảm mức thu nhập. Trước đây khách du lịch chủ yếu là người Úc và châu Âu, ngày nay cả những khách người Mỹ và châu Á cũng rất thích và bị thu hút bởi dịch vụ du lịch kiểu này, có lẽ vì thế mà Phố Tây vẫn là địa chỉ hấp dẫn.
Ngôi nhà cổ nhất Sài Gòn nằm trong khuôn viên Tòa Giám mục, tọa lạc tại số 180 Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngôi nhà này đã được tu sửa nhiều lần. Lần cuối vào năm 1980, nhưng hình dáng và vẻ ngoài nguyên thủy của nó cách đây 200 năm vẫn không thay đổi. Cuối thế kỷ 18, các quan lại triều Nguyễn thường sống trong những ngôi nhà với kiểu dáng như thế. Ngôi nhà với ba gian, hai chái. Hệ thống rường ngắn và mái ngói lợp âm dương đã hình thành một kiến trúc gỗ Việt Nam truyền thống với những bức vách là những thanh gỗ mỏng được xếp vuông góc. Những vách gỗ này không chỉ giữ vai trò bảo vệ tốt cho ngôi nhà mà còn là hệ thống thông gió tuyệt vời.
Sau năm 1945, những bức vách gỗ bị mối mọt ăn đã được thay thế bằng gạch. Trong lần tu sửa vào năm 1980, những người thợ đã thay phần lõi bên trong của những cột gỗ bị mối mọt ăn bằng cách đổ bê tông vào. Phần mặt ngoài những cột gỗ này vẫn được giữ nguyên nên chúng trông vẫn có vẻ cổ xưa. Đồng thời, những người thợ này cũng đã nâng phần đế cột lên 30cm.
Năm 1790, Nguyễn Ánh, vị Vua cuối cùng của triều Nguyễn, đã cho xây dựng ngôi nhà này để Giám mục xứ Adran, Pierre Pigneau de Behaine trú ngụ. Vị Giám mục này đã giúp đở Nguyễn Ánh trong cuộc chiến tranh chống lại những người nông dân áo vải Tây Sơn. Chính trong ngôi nhà này, Vị Giám mục này đã dạy học cho Hoàng tử Cảnh, con trai của Nguyễn Ánh.
Khởi thủy, ngôi nhà tọa lạc gần kênh Thị Nghè, nằm trong khu vực Thảo cầm Viên hiện giờ. Năm 1799, sau khi Pierre Pigneau mất, một Giám mục Pháp khác đã đến thay thế và ở trong ngôi nhà, nhưng giữa những năm 1811 và 1864, do triều đình Huế cấm đạo Công Giáo, ngôi nhà bị đóng cửa. Trong triều đại Tự Đức, ông Vua này đã ký hòa ước với Pháp và ngôi nhà được chuyển lại cho Tòa Giám mục và di chuyển về đường Alexandre de Rhodes, gần nhà thờ Chánh tòa. Năm 1900, cùng với Tòa Giám mục, ngôi nhà được di chuyển về địa điểm hiện tại. Hiện nó được sử dụng như nhà nguyện.
Với tình trạng nguyên thủy vẫn được vẫn giữ nguyên, chúng ta sẽ học hỏi được rất nhiều thứ khi tham quan ngôi nhà cổ đã được tu sửa rất tốt này. Một số tòa nhà di tích lịch sử của Sài Gòn không may là đã bị phá hỏng hình dáng nguyên thủy do sự tu sửa quá tệ.
Khi nói đến Sài Gòn với những di tích kiến trúc có tính đặc trưng, độc đáo không ai không liên tưởng đến Dinh Thống Nhất với vai trò lịch sử đối với dân tộc Việt Nam, vị trí được xác lập trong giao lưu kinh tế, chính trị, xã hội đối với toàn vùng Ðông Nam á cũng như trên thế giới.
Mặt tiền của Dinh Thống Nhất nằm trên ngã ba đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và đường Lê Duẩn. Khuôn viên rộng 15ha. Trên mặt bằng này, ngày 23.2. 1868, đô đốc thực dân Pháp De lagrandière làm lễ đặt viên đá đầu tiên, đặt tên là Dinh Norodom. Dinh Norodom được xây dựng và hoàn thành sau đó 3 năm, đây là cơ quan biểu thị cho bộ máy cai trị Pháp trên toàn cõi Ðông Dương.
Thời Pháp thuộc đây là trụ sở của các vị thủ hiến người Pháp được dân Nam gọi là dinh Thống Soái, và người Pháp gọi là Palais Norodom. Năm 1865 tờ Courier de Saigon viết: “Những nghiên cứu đầu tiên liên quan đến việc xây cất một dinh thự dành làm trụ sở vĩnh viễn cho quan Thống đốc bắt đầu thực hiện để thay thế cho những nhà bằng ống tạm thời”. Và dinh Thống Soái là một trong những dinh thự đồ sộ được xây dựng với mục đích đó, theo bản vẽ của kiến trúc sư Hermite (Hermite cũng là người phác thảo đố án tòa thị sảnh Hương Cảng). Theo sử liệu, viên đá đầu tiên của dinh Thống Soái do đô đốc De Lagrandière tự tay đặt vào ngày 23-2-1863. Viên đá lịch sử này là khối đá lấy ở Biên Hòa, hình vuông rộng mỗi cạnh 50cm, có lỗ, bên trong chứa những đồng tiền hiện hành thuở ấy bằng vàng, bạc, đồng, có chạm hình Napoléon đệ tam. Vật tư xây cất phần lớn được chuyển từ Pháp sang. Do chiến tranh Pháp-Ðức (xảy ra năm 1870) nên công trình này kéo dài mãi đến năm 1873 mới xong, riêng việc trang trí dinh phải kéo dài hai năm sau (1875). Lúc bấy giờ đại lộ Thống Nhất (nay là đường Lê Duẩn) còn gọi là đại lộ Norodom vẫn còn bùn lầy, ẩm thấp. Dinh này được coi là một công thự đẹp nhất ở Á Ðông. Mặt tiền rộng 80m, bên trong có phòng khách có thể chức đến 800 người. Chung quanh là khu vườn rộng lớn trồng đủ loại cây cỏ rất ngoạn mục. Ngay trước mặt dinh, dưới chân cột cờ có đặt một khẩu thần công kiểu cổ càng làm tăng thêm vẻ đẹp oai nghiêm cho công thự.
Nhiều biến cố chính trị đã xảy ra tại đây suốt gần một thế kỷ dưới sự thống trị của thực dân Pháp. Sau thất bại Ðiện Biên Phủ và Hiệp định Genève 1954, Dinh Norodom được trao lại cho Việt Nam. Năm 1954, Ngô Ðình Diệm được người Mỹ đặt ngồi vào Dinh Norodom. Ngày 26/10/1956 Dinh Norodom đổi tên là “Dinh Ðộc Lập”, tức Phủ Tổng Thống. Sau ngày hai viên phi công của không quân Sài Gòn là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc ném bom xuống Dinh Ðộc Lập (ngày 27/02/1962) làm thiệt hại nặng nề. Vì lối kiến trúc quá cổ và vị hư hại nhiều nên Diệm quyết định phá hủy toàn bộ dinh Norodom để xây dựng lại một dinh hoàn toàn mới gọi là dinh Ðộc Lập.
Thời gian xây cất kéo dài gần 3 năm: ngày 31-10-1966 việc xây dựng dinh hoàn tất. Trong thời gian xây dựng, có 6 tháng công việc bị đình trệ do nội bộ chính quyền Sài Gòn lục đục đánh nhau rồi đảo chính, nhất là sự kiện Ngô Ðình Diệm bị lật đổ và bị giết chết vào tháng 11-1963.
Diện tích khu này khoảng 12ha, diện tích mặt bằng dinh khoảng 2.000m2. Tòa nhà có diện tích 4.500m2, gồm1 tầng nền, 3 tầng chính, 2 gác lửng, 1 sân thượng đúc có thể làm bãi đáp cho máy bay trực thăng, trên 100 phòng ốc, 4000 ngọn đèn, 400 đường dây điện thoại nội Dinh, 1 tầng hầm kiên cố, 1 đài phát thanh dự phòng, 1 phòng chỉ huy tác chiến…. Tác giả công trình này là kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người từng đoạt giải Khôi Nguyên Kiến Trúc ở La Mã. Về kiến trúc, theo kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thì từ sự xếp đặt bên trong cho đến phần tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho một truyền thuyết cổ truyền phương đông, một nghi lễ thần thánh theo phong tục tập quán của dân tộc. Chúng ta có thể nhận thấy rằng, bình diện của toàn thể Dinh độc Lập được hình thành từ chữ Cát khi tâm của tòa nhà là phòng trình ủy nhiệm thư có thể so sánh như vị trí của điện Thái Hòa ở đại nội cố đô Huế.
Ngày 8-4-1975 phi công Nguyễn Thành Trung dùng máy bay Mỹ ném hai quả bom làm sập cánh trái dinh, sau đó bay luôn ra vùng giải phóng. Sức tiến công thần tốc của quân giải phóng trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử làm cho quân đội Sài Gòn không còn sức chống đỡ: Nguyễn Văn Thiệu từ chức tổng thống, giao quyền lại cho Trần Văn Hương, sau đó Hương lại giao vào tay Dương Văn Minh. 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975, lữ đoàn 203 xe tăng thuộc quân đoàn 2 dưới sự hướng dẫn của cô gái giao liên đất thép Củ Chi Nguyễn Trung Kiên (còn gọi là Cô Nhíp) tiến thẳng vào Dinh Ðộc Lập. Lúc lá cờ cách mạng tung bay trên dinh cũng là lúc toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn dưới sự điều khiển của Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện. Dinh Ðộc Lập trở thành hợp điểm của các cánh quân giải phóng Sài Gòn.
Sau chiến dịch Hồ Chí Minh, dinh Ðộc lập là nơi làm việc của Ủy ban Quân Quản thành phố Sài Gòn. Tháng 12-1975 tại đây diễn ra hội nghị Hiệp thương thống nhất đất nước. Cũng tại nơi đây đã diễn ra những cuộc họp quan trọng của Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam, một số các đoàn thể để bàn việc thống nhất các tổ chức. Với ý nghĩa lịch sử đó Dinh Ðộc lập đổi tên thành Hội trường Thống Nhất.
Một đêm nào đó, nhất là vào những dịp lễ hội, ngắm Dinh Thống Nhất rực rỡ ánh đèn và những chùm pháo bông tỏa sáng, đối với du khách, Dinh Thống Nhất được khoác lên một biểu tượng mới: Không khí hòa bình đang trùm phủ khắp quê hương Việt Nam.
Lăng tả quân Lê văn Duyệt, còn gọi là “Lăng ông Bà Chiểu”, là một di tích lịch sử – văn hóa ở TP.HCM đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia. Ðây không chỉ là nơi thờ cúng một nhân vật lịch sử cách nay hơn thế kỷ mà còn là công trình kiến trúc có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc mang đậm nét văn hóa truyền thống Việt Nam nói chung và vùng đất Nam bộ nói riêng. Nằm kề bên chợ Bà Chiểu nên “Lăng ông Bà Chiểu” là tên gọi phổ biến trong dân gian để chỉ di tích lịch sử – văn hóa: lăng tả quân Lê Văn Duyệt. Lăng tọa lạc số 126 Ðinh Tiên Hoàng – phường 1 – Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh trên một khu đất rộng 18.500 m2. Thật ra, theo đúng như hàng đại tự phù điêu trên cổng Tam quan thì tên gọi chính xác phải là “Thượng Công Miếu”.
Vốn nằm trên vùng đất hoang ở thượng du Nghi giang nên dọc lối đi vào khuôn viên lăng ngày nay vẫn còn nhiều cây gỗ quý cao to, bóng mát như: si, dầu, bằng lăng… Theo lời của một số người am hiểu thì ngày xưa, Lăng ông nằm trên một gò đất hình lưng qui. Ðối với khoa “địa lý” thì đây là vị thế nằm vào “long mạch” hợp với “địa linh nhân kiệt”, tài lộc đời đời vĩnh tế và sẽ có ảnh hưởng tốt cho sự an lạc của đồng bào cư trú trong khu vực.
Khuôn viên Lăng ông hiện còn khá rộng, được giới hạn bởi bức tường vây quanh với chu vi 500m, cao 1,2m. Bốn cổng lăng mở ra bốn hướng:
- Cổng Ðông (mở ra đường Trịnh Hoài Ðức).
- Cổng Tây (mở ra đường Ðinh Tiên Hoàng).
- Cổng Bắc (mở ra đường Phan Ðăng Lưu).
- Cổng Nam – Cổng Tam quan (mở ra đường Vũ Tùng).
Trước kia, khi những con đường trên chưa được mở thì diện tích Lăng ông lớn gấp 2 lần hiện nay. Phía trước và hai bên lăng miếu là phần đất hương hỏa mà triều đình Tự Ðức – năm thứ 13 (1860) ban cho xã Bình Hòa thâu huê lợi để phụng sự và trùng tu lăng miếu.
Tuy gọi là Lăng ông nhưng tại khu lăng mộ lại có hai ngôi mộ của Tả quân Lê Văn Duyệt và của chánh thất tả quân phu nhân Ðỗ Thị Phận, được song táng theo cổ lệ “càn khôn hiệp đức” của Nho giáo. Trước mộ phần là một ngôi điện nhỏ, tường gạch, mái lợp âm dương, phía trên vòm cửa hình vòng cung phù điêu hàng chữ “Lê Công Bí Ðình”.
Cùng nằm trên một trục và cách khu lăng một khoảng sân rộng 26 x 15m là khu vực trung tâm diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng được gọi là “Thượng công linh miếu”. Bố cục của “Thượng công linh miếu” bao gồm: tiền điện, trung điện và chánh điện, mỗi gian điện thờ cách nhau bằng một sân Thiên Tĩnh. Ðối xứng hai bên trục nhà chính là Ðông Lang , Tây Lang – Lễ khách đường. Nhìn bề ngoài, toàn bộ mái nhà “Thượng công linh miếu” như điệp vào nhau xếp thành lớp, thành tầng. Nóc sau cao hơn nóc trước với các cổ lầu rất nguy nga, bề thế. Vật liệu cũng như kỹ thuật kết cấu của “Thượng công linh miếu” có những đặc điểm đáng chú ý: kế thừa kiến trúc cổ truyền Việt Nam, đồng thời có sự cách tân , nên hình khôí kiến trúc có những thay đổi, tạo sự vững vàng, bền chắc. Tường gạch giữ vai trò quan trọng trong kết cấu chịu lực; cột gạch thay thế cột gỗ ở hàng hiên để chịu đựng lâu dài trước mưa dầm và nắng gắt của vùng nhiệt đới phương nam. Nhìn chung Tiền điện, Trung điện và chánh điện có một vài sự khác nhau về vật liệu và kỹ thuật kết nối bên trong. Tuy nhiên bộ mái nhà hai tầng là một nét đặc sắc chung trong tổng thể kiến trúc “Thượng công linh miếu”, thể hiện đặc điểm kiến trúc Việt Nam. Các bờ nóc được xây cao với hai đầu cong, trang trí “Lưỡng Long chầu nguyệt” trông giống như những chiếc thuyền rồng đang neo lại. Trên bề mặt bờ nóc được chia thành từng ô hình vuông và chữ nhật để đắp những đề tài trang trí khác. Cảm giác cong nhẹ của mái là điểm xoáy hất lên của đuôi rồng chầu vào bờ nóc hoặc nơi oằn xuống của lưng kỳ lân.
Sau nhiều đợt trùng tu, di tích Lăng ông đã phần nào phục hồi được nét uy nghiêm, cổ kính vốn có của một cơ sở tín ngưỡng và đã trở thành di sản quí giá trong kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam.
Thành phố Sài Gòn được thành lập trên một vùng đất có nhiều sông ngòi, kinh rạch và phát triển thành một đô thị lớn nhưng vẫn còn dấu vết của sông ngòi cũ, qua những địa danh đã trở thành quen thuộc.
Sông chính của thành phố là sông Sài Gòn, chảy qua tỉnh Bình Dương xuống Gia Định, rồi chảy sát phía Đông làm ranh giới với tỉnh. Những con sông và kinh rạch đáng kể là sông Thị Nghè (phụ lưu của sông Sài Gòn), kinh Đôi, kinh Hành Bàng, kinh Bến Nghé, rạch Cát, kinh Ruột Ngựa, (Mã Trường Giang) rạch Cầu Ông Lãnh, rạch Lò Gốm, rạch Cầu Kiệu, rạch Ông Buông, kinh Tàu Hủ…
Về nguồn gốc tên sông Thị Nghè, ta có hai tuyến khác nhau: Thứ nhất Bà Nguyễn Thị Khánh, con gái Khâm sai Nguyễn Cửu Vân (thời chúa Nguyễn Phúc Chu, 1691-1725) và là vợ của ông Nghè làm thư ký trong dinh Phiên Trấn, cho xây mộy cây cầu dài bắt qua sông để chồng tiện đi làm việc và cũng để dân chúng sử dụng. Cầu nầy được dân gọi Bà Nghè, sau đổi thành Thị Nghè. Thứ hai bà Thị Nghè(vợ một ông Nghè) tổ chức các toán dân Pháp đánh quân Pháp. Khi giặc chiếm Sài Gòn, cho một tàu nhỏ đổ quân lên bờ liền bị nghĩa quân của Thị Nghè đánh dữ dội. Sau bà hy sinh trong một trận đánh. Dân chúng đặt tên sông, cầu và vùng Thị Nghè từ đó.
Kinh Tàu Hủ (còn gọi là kinh Chợ Lớn) và đường thủy vẫn quan trọng về giao thông và kinh tế, vì nối liền Sài Gòn với các sông ngòi chảy xuống miền Tây. Xưa, vùng nầy còn có rạch Chợ Lớn nhưng quá nhỏ hẹp nên vua Gia Long cho 11.460 dân công đào kinh Tàu Hủ trong ba tháng và hoàn tất ngày 23 tháng Tư năm Kỷ Mảo (1819). Kinh dài độ năm cây số rưởi, rộng gần 37 thước, sâu khoảng 17 thước. Gia Long đặt tên kinh là An Thông Hạ. Kinh Ruột Ngựa do quan Nguyễn Hữu Đàm cho đào vào mùa Thu năm Nhâm Thìn (1772), phá một đường sình lầy để đào con kinh thẳng như ruột ngựa, nên gọi là “Mã Trường Giang”, giúp cho thuyền bè đi lại được thuận lợi hơn.
Lúc đất Sài Gòn mới phát triển, có rất nhiều kinh rạch đào ngang dọc thành phố nhưng đã bị lấp từ lâu để làm đường xá như kinh Sa Ngư (sau lấp lại thành đường Nguyễn Huệ, kinh Cây Cầm, (chạy trên đường Lê Thánh Tông), kinh Chợ Vải (chạy tới mặt tiền Toà Đô Chính). rạch Cầu Sấu (xưa có hầm nuôi cá sấu để bán thịt, rạch chạy đến hai đường Công Lý và Hàm Nghi), rạch Bà Tịnh (chạy đến đường Võ Tánh)… Vì thế, Sài Gòn có rất nhiều cầu xưa cũ như cầu Cao Miên (cầu Bông), cầu Muối , cầu Ông Lãnh, cầu Mống, cầu Quây, cầu Kho, cầu Quan, cầu Thị Nghè, cầu Xóm Chỉ, cầu Chợ Lớn, cầu Chà Và, cầu Xóm Củi, cầu Ông Lớn (xưa dân chúng không được gọi tên thật của Việt gian Đỗ Hữu Phương), cầu Bót Bình Tây, cầu Ba Cẳng…
Sài Gòn sớm xuất hiện ở vị trí mũi nhọn của cuộc Nam tiến tìm đất sống của người Việt, trở thành tụ điểm di dân tứ xứ, nơi gặp gỡ của nhiều luồng giao lưu. Quá khứ đó đã tạo nên diện mạo và bản sắc của Sài Gòn, một thành phố ngã ba đường, khác hẳn với những đô thị truyền thống Việt Nam. Tại những thành phố như Sài Gòn, sự phồn vinh làm cho cư dân gần gũi nhau, ký ức đan xen vào nhau. Nhịp sống ở đó mãnh liệt, hỗn độn hơn. Thông qua các đô thị như thế, đất nước được nối kết với các luồng giao lưu liên tục về con người, tư tưởng và cả luồng tư bản. Nó cũng chuyển về cho đất nước luồng sinh khí mới, nhiều sáng tạo, ngày càng lan rộng ra toàn bộ đất nước cùng với những cái mới rất cần thiết, chống lại sự xơ cứng, rập khuôn, đơn điệu. Sài Gòn khởi đầu là giao điểm các đường thủy bộ, tụ điểm lưu dân người Việt. Người Hoa tiếp tay biến nó thành một cảng thị sầm uất để giao lưu với khu vực. Người Pháp đến đã mở toang cảng thị, thu hút đầu tư và di dân tứ xứ về đây xây dựng nơi đây thành hẳn một đô thị công thương nghiệp hiện đại, trung tâm của một thị trường rộng lớn gồm cả vùng Đông Dương lẫn Hoa Nam.
Sài Gòn từ đó đặc biệt mang dấu ấn Pháp. “Nhưng Sài Gòn chưa bao giờ là nước Pháp. Nếu nó mang dấu ấn của các nhà kiến trúc Pháp thì ngược lại chính các nhà kiến trúc cũng mang nặng dấu ấn của Sài Gòn”, như nhận xét của Tùy viên Văn hóa-Khoa học Pháp Stéphane Dovert trong đề tựa cuốn sách viết nhân Sài Gòn 300 tuổi. Thời Pháp thuộc, Sài Gòn đã tồn tại song song nhiều dạng ở và sinh hoạt. Có mạng lưới ngõ xóm của người Việt, thành phố vườn cây của người Pháp, phố xá sầm uất của người Hoa, đường phố bazar của người Ấn. Chưa bao giờ thành phố Sài Gòn mang tính chất đa văn hóa, đa chủng tộc như thời đó. Cho nên ở Sài Gòn, khác với bất cứ nơi nào ở nước ta, ta có thể nhìn thấy bên cạnh đình chùa Việt là chùa miếu, hội quán của người Hoa, chùa Miên, thánh đường Thiên chúa giáo bên cạnh chùa Chà, mosque Hồi giáo, đền Chăm… các lối sống và sinh hoạt văn hóa cứ đan xen nhau rõ rệt ở Sài Gòn. Từ đất Gia định, Gò Vấp, Hóc Môn nửa phố thị, nửa miệt vườn, ta có thể bước vào khu phố Tàu Chợ Lớn nhộn nhịp. Từ quán ăn Pháp có thể xẹt vào tiệm bazar Chà. Tính chưa đầy đủ Sài Gòn những năm đó có tới hơn 40 quốc tịch khác nhau sinh sống lâu năm. Đông đảo nhất là người Việt với biểu hiện qua 272 ngôi đình cùng hàng nghìn chùa miếu, nhà thờ…
Không ít người cho rằng Sài Gòn là một thành phố mới, lai tạp, không có bản sắc văn hóa riêng do tính chất ngã ba đường của nó. Thực ra, lịch sử Sài Gòn tuy chỉ mới mấy trăm năm, nhưng bản sắc độc đáo từng làm nên cái hồn đô thị của nó cũng đã hình thành qua các công trình cha ông để lại. Khu tứ giác vùng đất cao trung tâm quận I vẫn là khu trung tâm lịch sử của thành phố. Cha ông chúng ta đã chọn chốn này làm trung tâm đô thị. Người Pháp đến cũng không có sự chọn lựa nào khác để đặt các cơ quan đầu não với các công trình kiến trúc chọn lọc như dinh Toàn quyền, Nhà thờ lớn (Đức Bà), Tòa án, Nhà hát, Bưu điện… Tất cả đã làm nên một quần thể kiến trúc với một không gian rộng mở, hòa nhập vào trong khoảng cây xanh, tạo thành một tuyệt tác quy hoạch đô thị vừa lãng mạn, vừa uy nghiêm. Nhờ đó mà Sài Gòn đã từng được du khách phương Tây dành cho cái tên khá mỹ miều “Hòn ngọc Viễn Đông“.
Khi nói về Sài Gòn, KTS Hoàng Đạo Kính đã nhận xét thật chính xác: “Thành phố Sài gòn khác hẳn những đô thị khác. Trong sự phát triển của nó không thể không dựa vào những yếu tố chủ đạo như những khoảng không lãnh thổ rộng lớn, hệ thống kênh rạch, sông và biển, những truyền thống và giá trị văn hóa Nam Bộ, quỹ kiến trúc đô thị và kỹ thuật khổng lồ và không thiếu sắc thái riêng, sự tham gia tương đối sớm vào quá trình đô thị hóa và hiện đại hóa, trình độ quản lý đô thị và nhất là trình độ nổi trội trong công nghệ xây dựng. Không thể không nhắc tới một yếu tố: sức sống, tính năng động, sức vươn lên của cả một cộng đồng xã hội”.
Tiếc rằng hiện nay trong cái nôn nóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhiều đô thị nước ta trong đó có cả Sài Gòn, chúng ta chưa tiếp thu được những bài học của quá khứ và đang vô tình xóa dần đi di sản khi áp dụng kiểu qui hoạch máy móc bàn giấy, phủ nhận nền kiến trúc của các thế hệ đi trước. Làm như vậy là chúng ta tự đóng cửa với quá khứ, làm mất đi bản sắc của chính mình, phá bỏ thành quả của các thế hệ đã qua và trầm trọng hơn là đang xóa đi chính cái hồn đô thị của mình.
Trong những năm 1776, vùng đất Sài Gòn (tức vùng Chợ Lớn ngày nay, còn Sài Gòn ngày nay trước kia được gọi là Bến Nghé) là nơi định cư của người Hoa ở Cù Lao Phố (tức Biên Hoà ngày nay) sau khi chạy lánh nạn do chiến tranh giữa Nguyễn Anh và quân Tây Sơn. So với Cù Lao Phố, Sài Gòn có nhiều lợi thế hơn hẳn do có giao thông thuỷ, bộ rất thuận lợi. Theo phong tục tập quán, người Hoa thường lập chợ khi đến nơi định cư mới nhằm có chỗ để trao đổi hàng hoá. So với chợ Tân Kiểng của người Việt thì chợ Sài Gòn (khu vực Bưu điện Chợ Lớn ngày nay) có lớn hơn nên được người dân nơi đây gọi là Chợ Lớn.
Chợ Lớn ngày càng phát triển sung túc, nhiều người dân từ nơi khác tập trung đến làm ăn mua bán. Chợ trở nên chật hẹp không thể phát triển thêm. Chính quyền tỉnh Chợ Lớn thời đó cũng dự định xây dựng chợ mới nhưng chưa tìm được đất. Hay tin, Quách Đàm bỏ tiền ra mua mảnh đất sình lầy rộng trên 25.000m2 ở thôn Bình Tây và cho san lấp bằng phẳng, xây dựng chợ mới bằng bê tông cốt thép tặng nhà nước. Riêng Ông chỉ xin xây dựng mấy dãy phố lầu xung quanh chợ và dựng tượng Ông chính giữa chợ sau khi Ông qua đời.
Quách Đàm, thương hiệu Thông Hiệp (1863 – 1927, theo ghi khắc tại bệ đá thờ Ông trong hoa viên của chợ), người được xem như thần tài của chợ Bình Tây, người làng Triều An, Long Khanh, Triều Châu, Trung Quốc rời quê hương với hai bàn tay trắng. Thuở ban đầu Ông đi thu mua ve chai, lông vịt và các loại nguyên liệu phế thải để kiếm sống qua ngày. Nhờ đức tính cần cù chịu khó, lại giỏi tính toán, bán buôn Ông dần trở thành người giàu có. Khi được chính quyền tỉnh Chợ Lớn đồng ý, Ong tổ chức xây chợ mới theo lối kiến trúc Trung Quốc và áp dụng kỹ thuật xây dựng hiện đại của Pháp thời bấy giờ. Riêng tượng Ông Quách Đàm bằng đồng được thuê đúc tận bên Pháp. Sau khi mất tượng Ông Quách Đàm được gia đình ông dựng lên vào năm 1930 trên bệ cao, dưới chân tượng có kỳ lân chầu và rồng phun nước. Hiện nay, tượng của Ông được lưu giữ và bảo quản tại Viện Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
Chợ mới sau khi xây xong rất khang trang, sạch sẽ trên khuôn viên đất khá rộng nên được người dân gọi là Chợ Lớn Mới. Ngay sau khi được đưa vào hoạt động, với lợi thế về giao thông thuỷ bộ cũng như tay nghề kinh doanh của bà con tiểu thương người Việt và người Hoa, Chợ Lớn Mới nhanh chóng trở thành khu kinh doanh sầm uất, giữ tính chất đầu mối bán buôn khắp Nam kỳ lục tỉnh, trong nước và các nước láng giềng cho đến ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.
Ngay sau ngày giải phóng, chính quyền Cách mạng tiếp nhận quản lý, sắp xếp cho nhân dân tiếp tục mua bán phục vụ hàng hoá cho cả nước và các nước bạn Lào, Campuchia, Trung Quốc và đổi tên chợ là chợ Bình Tây cho đến ngày nay. Năm 1992, tiếp tục phát huy thế mạnh của chợ, UBND Quận 6 tổ chức sửa chữa nâng cấp nhà lồng chợ thêm một tầng lầu. Năm 2006 tiếp tục đầu tư cải tạo sửa chữa khu vực Trần Bình – Lê Tấn Kế khang trang sạch đẹp, chợ Bình Tây vì thế trở thành một trong những ngôi chợ lớn của thành phố với 2.358 quầy sạp. Khu vực nhà lồng chợ có 1446 sạp, trong đó tầng trệt là 698 sạp, tầng lầu có 748 sạp. Khu vực ngoài nhà lồng có 912 sạp, trong đó Trần Bình có 408 sạp, Lê Tấn Kế có 328 sạp, Phan Văn Khoẻ là 176 sạp. Các ngành hàng được bố trí, sắp xếp hợp lý, tập trung theo từng khu vực kinh doanh nhằm phát huy thế mạnh của từng ngành hàng. Bà con người Hoa vẫn tập trung về chợ làm ăn mua bán mà đa số là người Hoa sinh sống tại các quận 5, quận 6 và quận 11. Tiểu thương người Hoa hiện chiếm tỷ lệ 25% số lượng hộ kinh doanh tại chợ Bình Tây.
Trải qua hơn 80 năm hình thành và phát triển, chợ Bình Tây ngày nay vẫn giữ được vị thế của một chợ đầu mối bán buôn lớn của thành phố và của quận 6 mặc dù có sự cạnh tranh khá quyết liệt của các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại hiện đại trong những năm gần đây. Tuy nhiên, với lối kiến trúc cổ xưa của Trung Quốc và bề dày lịch sử lâu năm nên chợ đang mở ra một hướng phát triển mới đó là điểm du lịch tham quan mua sắm nhiều tiềm năng cho khách du lịch trong và ngoài nước.
Hàng năm có trên 120.000 lượt khách du lịch người nước ngoài đến tham quan và mua sắm tại chợ do các Công ty du lịch của cả nước đưa tới, trong đó nhiều nhất là Công ty du lịch Sài Gòn. Đến với chợ Bình Tây, du khách vừa được ngắm nhìn kiến trúc cổ, tìm hiểu lịch sử của chợ và mua sắm với giá cả phù hợp.
[www.chobinhtay.gov.vn]
Khu đô thị Phú Mỹ Hưng là một khu đô thị mới ở Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích 6 km². Khu đô thị nằm dọc theo Đại lộ Nguyễn Văn Linh, là một phần của khu đô thị Nam Sài Gòn có diện tích lớn hơn nhiều. Khu đô thị này hiện nay được xem là kiểu mẫu đô thị mới tốt nhất tại Việt Nam[cần dẫn nguồn] và là nơi tập trung sinh sống của những người có thu nhập cao. Khu đô thị này do công ty liên doanh Phú Mỹ Hưng do tập đoàn Đinh Thiện Lý, Đài Loan đầu tư, thiết kế của một công ty tư vấn Hoa Kỳ.
Đô thị PMH xây dựng theo quy hoạch tổng thể ngay từ đầu sẽ trở thành T.T thương mại tài chính quốc tế hấp dẫn nhất Đông Nam Á. Trên diện tích 2.600ha tọa lạc song song với TP.HCM về phía Nam, Cty LD PMH được phép khai thác phát triển khu đất trong phạm vi công trình đô thị mới để xây dựng một đô thị kiểu mẫu tại Đông Nam Á.
Quy hoạch tổng thể đô thị mới do công ty Skidmore, Owings & Merrill (Mỹ) thiết kế đã được Thủ tướng phê duyệt vào ngày 8/12/1994 và vào ngày 3/3/1995, Chính Phủ Việt nam đã chính thức chấp thuận việc thành lập Ban Quản Lý Khu Nam với cơ chế đầu tư Một Cửa cho Đô Thị PMH. Đô thị Phú Mỹ Hưng được phát triển trong cơ cấu bảo vệ môi trường. Nền Tảng Cho Chiến Lược Phát Triển Một Thành Phố Hướng Ra Biển Đông.
Là bước đầu của chương trình mở rộng TP.HCM về hướng Nam, tiến ra biển theo xu hướng các đô thị lớn trên thế giới, việc phát triển đô thị PMH sẽ là một yếu tố quan trọng trong kế hoạch phát triển toàn diện khu tam giác kinh tế trọng điểm miền Nam gồm TP.HCM – Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu, để hình thành thêm một trung tâm đô thị có đầy đủ chức năng về tài chính, thương mại, dịch vụ, cư trú, văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật cao và du lịch quốc tế ở Việt Nam. Một đô thị có đầy đủ hạ tầng cần thiết, chức năng hoàn chỉnh với một cộng đồng dân cư hiện đại, … sẽ đáp ứng nhu cầu khi điều kiện kinh tế ngày càng phát triển và khi lương dân số tại TP.HCM có thể gia tăng đến 10 triệu người trong thập kỷ tới.
Ba chức năng của Công ty TNHH Liên doanh Phú Mỹ Hưng:
1) Xây dựng đại lộ Nguyễn Văn Linh dài 17,8km, lộ giới 120m có 10 làn xe (6 làn xe cao tốc và 4 làn xe hỗn hợp, riêng đoạn đi ngang qua Khu A – Trung tâm đô thị PMH – có 14 làn xe). Chính giữa đại lộ là phần đất công viên rộng 18 – 36m dự phòng để phát triển dự án metro trong tương lai. Đại lộ này được xây dựng hoàn toàn mới băng qua vùng đất đầm lầy của huyện Nhà Bè (nay là quận 7), quận 8 và huyện Bình Chánh. Đây là tuyến đường giao thông huyết mạch trung chuyển hàng hoá từ TP.HCM đến các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, mở ra thời cơ mới trong việc phát triển thành phố theo quy hoạch đã được chính phủ phê duyệt, là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy quá trình đô thị hóa, chuyển đổi một bộ phận dân cư nông nghiệp trở thành dân cư thành thị và cải tạo vùng đất nông nghiệp phèn mặn trở thành một đô thị hiện đại cho thế kỷ 21, từ đó làm động lực thúc đẩy phát triển kinh tế toàn khu Nam và TP.HCM. Cầu Phú Mỹ đã thông xe nối liền quận 7 với quận 2, từ đó liên thông các tỉnh miền Đông với miền Tây nam bộ. Công trình xây dựng đại lộ Nguyễn Văn Linh được chia làm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 thông xe 2 làn vào đầu năm 1998. Giai đoạn 2 thông xe từ 4 – 6 làn vào năm 2003. Giai đoạn 3 thông xe đủ 10 làn theo đúng thiết kế, đúng tiến độ vào ngày 30/12/2007. Nhân dịp này, Công ty TNHH LD Phú Mỹ Hưng đã vinh dự được Đảng và Nhà nước trao tặng Huân chương Lao động Hạng I.
2) Xây dựng hoàn chỉnh cơ sở hạ tầng của 150ha đất công trình công cộng để bàn giao cho UBND TP.HCM quản lý, kinh doanh, xây dựng tiện ích công cộng.
3) Xây dựng 5 cụm đô thị hiện đại theo quy hoạch tổng thể A, B, C, D, E dọc theo đại lộ Nguyễn Văn Linh, nhằm thực hiện định hướng phát triển TP.HCM hướng ra biển Đông theo chủ trương của Chính phủ Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng.





Người mẫu: Huỳnh Bích Phượng
Áo dài Việt Hùng

No comments:

Post a Comment